Sáng Thế Ký 35:23-29

15 views

Phạm Trịnh Minh Anh

Câu gốc: “Nhưng sự tin kính cùng sự thỏa lòng là một lợi lớn.” (I Ti-mô-thê 6:6).

Câu hỏi suy ngẫm trong tuần:

  1. Gia-cốp có bao nhiêu người con trai? Họ trở thành gì sau này? 
  2. Hãy kể câu chuyện về một trong các nhân vật được kể tên (ngoại trừ Gia-cốp) trong phân đoạn này mà các con nhớ. Câu chuyện đó dạy cho con điều gì?
  3. Thánh Kinh chép I-sác “thỏa mãn về đời mình”, con hiểu như thế nào là “thỏa mãn về đời mình”? 
  4. Các con có thấy “thỏa mãn về đời mình” không? Vì sao?
  5. Con có thể làm gì để hiếu kính cha mẹ và sống thỏa lòng trong Chúa? Con đã làm hết những gì mình có thể làm chưa? Vì sao?

Bài Chia Sẻ:

Các cháu thiếu nhi thương mến,

Hôm nay cô và các con tiếp tục cùng nhau học hỏi Lời Chúa chép trong sách Sáng Thế Ký 35:23-29. Trước tiên, cô mời các con lắng nghe Lời Chúa.

Sáng Thế Ký 35:23-29
23 Gia-cốp có được mười hai con trai. Con của Lê-a là Ru-bên, trưởng nam của Gia-cốp; kế nữa là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, I-sa-ca và Sa-bu-lôn.
24 Con của Ra-chên là Giô-sép và Bên-gia-min.
25 Con của Bi-la, tớ gái của Ra-chên là Đan và Nép-ta-li;
26 và con của Xinh-ba, tớ gái của Lê-a, là Gát và A-se. Ấy đó là các con trai của Gia-cốp sinh tại xứ Pha-đan-a-ram.
27 Gia-cốp đến với I-sác, cha mình, ở Mam-rê, tại Thành Ki-ri-át-a-ra-ba, tức là Hếp-rôn, nơi Áp-ra-ham và I-sác đã kiều ngụ.
28 Những ngày của I-sác là một trăm tám mươi năm.
29 Người tuổi cao tác lớn, thỏa mãn về đời mình, tắt hơi, được về cùng tổ phụ. Ê-sau và Gia-cốp, hai con trai, chôn người.

Các cháu thiếu nhi thương mến,

Chúng ta sẽ chia phân đoạn này làm hai phần, phần đầu chúng ta sẽ tìm hiểu về ý nghĩa của các cái tên của các con trai của Gia-cốp, và phần sau ôn lại cuộc đời của I-sác và sự qua đời của ông. 

Sáng Thế Ký 35:23-26 liệt kê tên của mười hai con trai của Gia-cốp theo tên của những người vợ của ông. Trong đó bà Lê-a và bà Ra-chên là hai người vợ của Gia-cốp, còn Bi-la và Xinh-ba là hai vợ lẽ của ông. Xinh-ba là tớ gái của Lê-a, Bi-la là tớ gái của Ra-chên, hai người tớ gái được Lê-a và Ra-chên đưa đến với Gia-cốp để qua đó sinh con cho mình. Trong phân đoạn này, các con trai được liệt kê theo mẹ của họ, chứ không theo thứ tự được sinh ra. Còn tên các người vợ được liệt kê theo thứ tự thời gian khi Gia-cốp đến với từng người. 


https://od.lk/s/NV8yMDY5MDQ2Mzdf/12ConTraiCuaGia-cop.jpg

Các con xem hình để dễ hình dung và các số được ghi trước tên là số thứ tự theo thời gian ra đời của 12 người con của Gia-cốp theo mẹ của họ. 

  • Đầu tiên bà Lê-a sinh bốn con trai cho Gia-cốp, vì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu thấy Lê-a bị ghét, nên cho nàng sinh sản. Con trưởng nam của Gia-cốp là Ru-bên, sau đó là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa. (Sáng Thế Ký 29:31-35).
  • Ra-chên thấy mình chẳng sinh được con cho Gia-cốp, thì đưa Bi-la là tớ gái của mình, làm vợ bé cho Gia-cốp, qua đó có hai con trai là Đan và Nép-ta-li (Sáng Thế Ký 30:4-8). 
  • Lê-a thấy mình thôi sinh sản, cũng bắt Xinh-ba, tớ gái mình, làm vợ bé cho Gia-cốp, sinh ra Gát và A-se (Sáng Thế Ký 30:9-13).
  • Lê-a tiếp tục sinh ra hai con trai nữa là I-sa-ca và Sa-bu-lôn. Kế đó, bà sinh một con gái là nàng Đi-na. (Sáng Thế Ký 30:17-21). 
  • Thiên Chúa nhớ đến Ra-chên, mở tử cung của bà, bà thụ thai và sinh ra Giô-sép (Sáng Thế Ký 30:22-24). Trước khi bà qua đời, bà đã sinh ra Bên-gia-min (Sáng Thế Ký 35:16-18).

Mỗi cái tên đều mang một ý nghĩa riêng, bày tỏ cảm xúc, tình cảm của người đặt tên, nên chúng ta sẽ cùng nhau ôn lại để nhớ về câu chuyện mỗi khi Lê-a và Ra-chên đặt tên cho các con trai của mình. Chúng ta sẽ xem ý nghĩa của từng cái tên của mười hai con trai của Gia-cốp, xếp theo thứ tự họ được sinh ra nhé (*).

  1. Tên Ru-bên do Lê-a đặt, mang ý nghĩa là “hãy xem, một đứa con trai”. Lê-a bày tỏ sự vui mừng vì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã thấy nỗi khổ của bà.  

Lê-a thụ thai, sinh một con trai, đặt tên Ru-bên; vì nói rằng: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã thấy sự cực khổ tôi; bây giờ chồng sẽ yêu mến tôi.” (Sáng Thế Ký 29:32).

  1. Tên Si-mê-ôn do Lê-a đặt, mang ý nghĩa là “nghe”. Lê-a tin Chúa đã nghe biết bà bị ghét, nên cho bà có thêm con. 

Nàng thụ thai nữa và sinh một con trai, đặt tên Si-mê-ôn; vì nói rằng. Đấng Tự Hữu Hằng Hữu có nghe biết tôi bị ghét, nên cho thêm đứa này.” (Sáng Thế Ký 29:33).

  1. Lê-vi do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “gắn bó, dính díu”. Lê-a hy vọng chồng sẽ gắn bó, dính díu với mình khi có thêm con trai.

Nàng thụ thai nữa và sinh một con trai; nàng rằng: Lần này chồng sẽ dính díu cùng tôi, vì tôi đã sinh cho người ba con trai; bởi cớ đó, đặt tên là Lê-vi.” (Sáng Thế Ký 29:34).

  1. Tên Giu-đa do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “tôn vinh”. Lê-a cảm tạ và tôn vinh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Nàng thụ thai nữa, sinh một con trai, và nói rằng: Lần này tôi tôn vinh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; vì cớ ấy, đặt tên là Giu-đa. Kế đó, nàng thôi thai nghén.” (Sáng Thế Ký 29:35).

  1. Tên Đan do Ra-chên đặt, mang ý nghĩa “quan án, thẩm phán”. Ra-chên tin Chúa đã nghe lời cầu xin của bà, và xét xử cho bà.

Thiên Chúa đã phán xét tôi, cũng đã nghe tiếng tôi và ban cho tôi một con trai. Vì vậy, nàng đã đặt tên của nó là Đan.” (Sáng Thế Ký 30:6). 

  1. Tên Nép-ta-li do Ra-chên đặt, mang ý nghĩa “đấu vật hay đấu tranh”. Ra-chên cho rằng mình đã tranh chiến dữ dội với chị mình và đã thắng.

Ra-chên rằng: Tôi đã hết sức chống cự với chị tôi, và tôi được thắng; vì cớ ấy, nàng đặt tên đứa trai này là Nép-ta-li.” (Sáng Thế Ký 30:8). 

  1. Tên Gát do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “ơn phước”.

Lê-a rằng: Phước biết dường bao! rồi đặt tên đứa trai đó là Gát.” (Sáng Thế Ký 30:11). 

  1. Tên A-se do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “hạnh phúc”. 

thì Lê-a rằng: Tôi lấy làm vui mừng dường bao! Vì các con gái sẽ xưng ta được phước; nàng đặt tên đứa trai đó là A-se.” (Sáng Thế Ký 30:13). 

  1. Tên I-sa-ca do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “phần thưởng hoặc tiền công”. Lê-a tin rằng Thiên Chúa đã thưởng cho bà.

Nàng rằng: Thiên Chúa đã đền công tôi, vì cớ tôi đã trao tớ gái cho chồng; vậy, nàng đặt tên đứa con trai đó là I-sa-ca.” (Sáng Thế Ký 30:18).

  1. Tên Sa-bu-lôn do Lê-a đặt, mang ý nghĩa “được tôn cao”. Lê-a hy vọng chồng sẽ yêu quý bà hơn.

nói rằng: Thiên Chúa ban cho tôi một vật quý báu; lần này chồng sẽ ở cùng tôi, vì đã sinh cho người sáu con trai rồi. Nàng đặt tên đứa con trai này là Sa-bu-lôn.” (Sáng Thế Ký 30:20). 

  1. Tên Giô-sép do Ra-chên đặt, mang ý nghĩa “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã thêm vào”.

đặt tên đứa trai đó là Giô-sép; lại nói rằng: Cầu xin Đấng Tự Hữu Hằng Hữu thêm cho một con trai nữa!” (Sáng Thế Ký 30:24). 

  1. Tên Bên-gia-min do Gia-cốp đặt mang ý nghĩa “con trai của tay phải”. Còn tên Bê-nô-ni do Ra-chên đặt mang ý nghĩa “con trai của sự đau đớn tôi” thì không được sử dụng. 

Bởi Ra-chên gần trút linh hồn, vì đang cơn hấp hối, nên người đặt đứa con trai đó tên là Bê-nô-ni; còn cha nó lại đặt tên là Bên-gia-min.” (Sáng Thế Ký 35:18).

Chi tiết Chúa liệt kê tên của từng người con trai của Gia-cốp, là những người sau này trở nên những tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên, cho chúng ta thấy Chúa biết rõ từng người, và Ngài có chương trình dành cho từng người, dù mỗi người đều không hoàn hảo, cũng không ít người phạm tội rất nặng cùng Ngài. Những cái tên được đặt ra dù có xuất phát từ sự ganh đua, đau khổ, hay niềm vui, thì mỗi người họ đều được ở trong sự thương xót của Chúa, bởi Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp. Ngài đã làm cho họ trở nên tổ phụ của mười hai chi phái của I-sơ-ra-ên, khiến họ thành một dân lớn, một dân thánh thuộc về Ngài. 

Chúng ta cũng vậy, mỗi người trong chúng ta đây đều được Chúa biết rõ, đến tóc trên đầu của chúng ta cũng được đếm cả rồi (Lu-ca 12:7), thì huống chi là tên của chúng ta. Chúa nhớ tên từng người trong chúng ta, dù chúng ta chỉ là những con người thật nhỏ bé, yếu đuối, bất toàn, nhưng chẳng người nào bị Ngài bỏ sót. Cảm tạ Chúa vì Ngài đã quý trọng và yêu thương mỗi người chúng ta. Nên là con dân Chúa, chúng ta cũng có bổn phận và trách nhiệm khi mang danh của Ngài. Mục đích của đời sống của mỗi chúng ta là sống làm đẹp lòng Chúa, làm theo những ý muốn tốt lành mà Chúa đã kêu gọi chúng ta. 

Các con có biết ý nghĩa của tên mình không? Hãy chia sẻ ý nghĩa của tên của các con.

Những cái tên của các con do ba mẹ đặt, bày tỏ phần nào tấm lòng của ba mẹ dành cho các con, nên các con có thể nhờ ba mẹ giải thích ý nghĩa của tên của các con, hoặc xem lại bài giảng Bổn Phận và Trách Nhiệm của Một Người Mang Danh Chúa mà bà Grace đã cậy ơn Chúa giải thích ý nghĩa tên của các con. Các con xem lại để biết ý nghĩa tốt đẹp của tên của mình và các bạn nhé. Xin Chúa dùng điều đó để khích lệ các con càng hơn trong nếp sống theo Chúa, giống như cái tên mà các con được ban cho.

Ấy đó là các con trai của Gia-cốp sinh tại xứ Pha-đan-a-ram.” (Sáng Thế Ký 35:26b).

Chúng ta biết rằng chỉ có 11 người con đầu là được sinh ra trên đất Pha-đan-a-ram, còn Bên-gia-min được bà Ra-chên sinh ra trên con đường từ Bê-tên đi về Ê-phơ-rát, tức là Bết-lê-hem (Sáng Thế Ký 35:16-18), nơi đó thuộc về xứ Ca-na-an, như trong bài học tuần trước mà các con đã được học. 

Sự khó hiểu này là do trong tiếng Hebrew gốc, giới từ “beth” (בְּ) trong cụm “sinh tại Pha-đan-a-ram” (אֲשֶׁר יֻלַּד־ל֖וֹ בְּפַדַּן אֲרָֽם) thường mang nghĩa vị trí, nhưng có thể được hiểu theo cách công cụ hoặc nguyên nhân (“qua” hoặc “nhờ” Pha-đan-a-ram). Điều này nhấn mạnh rằng Gia-cốp có được các con trai nhờ hành trình đến Pha-đan-a-ram (nơi ông lấy vợ và hình thành gia đình), chứ không nhất thiết chỉ địa điểm sinh chính xác. Ngữ cảnh của Sáng Thế Ký 35 là tóm tắt hành trình của Gia-cốp, nơi Pha-đan-a-ram đại diện cho giai đoạn lưu vong và phước lành từ Đức Chúa Trời, dẫn đến việc sinh ra toàn bộ 12 con trai, kể cả Bên-gia-min sinh sau. Vậy, câu văn không nói rằng tất cả các con trai đều sinh tại Pha-đan-a-ram theo vị trí địa lý, mà là chúng sinh “cho Gia-cốp” trong thời kỳ ông lưu trú ở đó – giai đoạn lưu vong và xây dựng gia đình. Bên-gia-min, dù sinh ở Ca-na-an, vẫn là kết quả của hôn nhân và lời hứa từ thời kỳ đó. (*)

Sáng Thế Ký 35:27-29
27 Gia-cốp đến với I-sác, cha mình, ở Mam-rê, tại Thành Ki-ri-át-a-ra-ba, tức là Hếp-rôn, nơi Áp-ra-ham và I-sác đã kiều ngụ.
28 Những ngày của I-sác là một trăm tám mươi năm.
29 Người tuổi cao tác lớn, thỏa mãn về đời mình, tắt hơi, được về cùng tổ phụ. Ê-sau và Gia-cốp, hai con trai, chôn người.

Các con thương mến,

Gia-cốp đã đến Mam-rê, tại Thành Ki-ri-át-a-ra-ba, còn gọi là Thành Hếp-rôn, sống cùng cha mình nhiều năm ở đó trước khi I-sác qua đời. Đó là là nơi mà cả cha ông là I-sác và ông nội của ông là Áp-ra-ham đã ở. Cuộc đời của Gia-cốp và cuộc đời của cha ông là I-sác rất khác nhau. 

  • Gia-cốp có anh là Ê-sau, thời trẻ vì muốn chiếm quyền trưởng nam mà Gia-cốp đã phạm tội, từ đó phải rời xa gia đình, rời xứ Ca-na-an để trốn chạy đến Pha-đan-a-ram. Trải qua nhiều biến cố rồi về mới trở về lại Ca-na-an. Cha Gia-cốp là I-sác, cũng có một người anh là Ích-ma-ên lớn hơn ông đến 14 tuổi, nhưng ông chẳng cần tranh giành gì, ông được hưởng mọi cơ nghiệp của cha ông là Áp-ra-ham. Cuộc đời của ông yên bình. Ông sinh ra ở Ca-na-an và ở luôn tại Ca-na-an cho đến lúc qua đời.
  • Gia-cốp phải bỏ ra 14 năm để cưới Ra-chên, người ông yêu. Còn I-sác yêu và cưới Rê-bê-ca là người vợ mà Chúa chọn cho ông, qua cha của ông, mà không cần tìm kiếm vất vả.
  • Các con trai Gia-cốp lừa gạt ông, khiến ông tưởng Giô-sép đã chết, làm tuổi già của ông ở trong nỗi buồn mất con. Còn I-sác, cũng bị con trai mình là Gia-cốp gạt để chiếm lấy sự chúc phước của ông, nhưng ông vẫn bởi đức tin chúc phước cho hai con trai của mình.
    Bởi đức tin, I-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những sự sẽ đến.” (Hê-bơ-rơ 11:20).

Thánh Kinh chép I-sác được 180 tuổi, người tuổi cao tác lớn, thỏa mãn về đời mình, rồi qua đời về cùng tổ phụ mình. Dù hai con trai ông ban đầu có ghét nhau, nhưng về sau họ đã hòa thuận trở lại, khi ông tắt hơi, thì hai con trai đã chôn ông. Chúng ta có thể thấy cuộc đời của I-sác rất bình yên, không nhiều sóng gió như cuộc đời của Gia-cốp. Thánh Kinh không chép gì nhiều về I-sác và về tuổi trẻ của ông. Nhưng trong câu chuyện Áp-ra-ham dâng I-sác làm của lễ thiêu, ngoài đức tin lớn của Áp-ra-ham, thì chúng ta còn thấy đức tin của chàng trai trẻ I-sác nữa. Trong khi Áp-ra-ham đã già, còn I-sác thì trẻ khỏe, nhưng ông đã ngoan ngoãn, tin cậy và vâng phục cha mình hoàn toàn mà chịu trói và chịu đặt lên bàn thờ. Có lẽ bởi sự hiền lành, nhu mì, khiêm nhường của I-sác, mà cuộc đời ông luôn ở trong sự bình yên, vui thỏa, với mọi sự phước hạnh của Đức Chúa Trời ban cho ông!

I-sác không chỉ được sống lâu mà còn được thỏa mãn về đời của mình. Sự thỏa lòng của ông không đến từ sự giàu có, mà vì ông sống đời sống tin kính Chúa. Mọi ơn phước I-sác nhận được cách tự nhiên, yên bình, mà không cần phải tranh giành từ bất cứ ai.

Nhưng sự tin kính cùng sự thỏa lòng là một lợi lớn.” (I Ti-mô-thê 6:6).

Quả thật, I-sác đã sống một cuộc đời bình an, thỏa lòng trong sự tin kính Chúa. Cũng vậy, niềm vui thích và sự hạnh phúc của các con, không bao giờ nằm ở việc có thật nhiều đồ chơi, tiền bạc hay quần áo đẹp, mà ở chỗ chúng ta có yêu kính Chúa, sống với lòng biết ơn Ngài và bằng lòng với những gì mình có không. Các con không cần ganh tỵ, hơn thua, ghen ghét với ai, vì các con có Cha là Đấng ở trên trời, Ngài yêu thương các con, biết các con cần gì, và cũng biết điều gì là tốt nhất cho các con. Trong độ tuổi của các con, thì mỗi ngày các con cứ hãy làm vui lòng cha mẹ và đẹp lòng Chúa, qua sự vâng lời cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ, học hành chăm chỉ, yêu thương, hòa thuận với anh chị em, và biết ơn Chúa về mọi điều mình có, như vậy các con sẽ cảm nhận được thế nào là “thỏa mãn về đời mình”. 

Câu hỏi tình huống: A và B là hai bạn học chung một lớp. A có một chiếc xe đồ chơi hơi cũ, màu đã tróc sơn. A thường vui vẻ chơi chiếc xe đó với các bạn khác. A vui cười, thấy hạnh phúc vì được có đồ chơi và có bạn bè. 

B có rất nhiều đồ chơi, đa số chúng đều rất mới, bóng loáng, đắt tiền. B giữ đồ chơi kỹ, không muốn mang ra chơi cùng bạn bè vì sợ bị hư, bị trầy. Nhìn thấy A vui cười, B thấy lòng buồn bực, không hiểu sao mình có nhiều đồ chơi mới hơn A mà mình không thấy vui bằng bạn A. B cứ so sánh, ganh đua với A, rồi giận dỗi, ghen tức.

Theo các con, tại sao B có nhiều đồ chơi tốt hơn A, mà B lại không cảm thấy vui như A?

Đáp án:
Bạn B không vui vì nhiều lý do. Ngoài sự ích kỷ không muốn chia sẻ của mình, B còn không biết thỏa lòng với những món đồ chơi mình có, dù những món đồ ấy không phải ai cũng có được. A thì lại khác, dù món đồ chơi A có đã cũ, nhưng bởi sự thỏa lòng mà A có được niềm vui.

Như vậy, không phải khi các con có thật nhiều đồ chơi mới, đắt tiền, thì các con mới được vui, mà các con sẽ được vui vẻ, và cảm thấy hạnh phúc khi các con biết biết cảm tạ Chúa về những gì mình đang có, và thỏa lòng với những thứ Chúa ban cho mình. Khi biết ơn Chúa thì chúng ta sẽ được thỏa lòng, khi chúng ta được thỏa lòng thì chúng ta sẽ luôn được vui vẻ, yêu thương và hạnh phúc trong ơn phước Chúa ban cho.

Nguyện xin Chúa Yêu Thương gìn giữ, bao phủ chúng con, cho chúng con luôn vui thỏa trong ân điển, và trong tình yêu của Ngài. Nguyện mọi lời ca tụng, sự vinh quang, sự khôn sáng, lời cảm tạ, sự tôn quý, quyền lực, và sức mạnh đều duy thuộc về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho tới đời đời, vô cùng. A-men!

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.
Ban Chăm Sóc Thiếu Nhi
Phạm Trịnh Minh Anh

(*) Dưới sự góp ý của người chăn Huỳnh Christian Timothy.

One Reply to “Sáng Thế Ký 35:23-29”

Để lại một bình luận