Chú Giải Lê-vi Ký 23:15-22 Lễ Ngũ Tuần

531 views

YouTube: https://youtu.be/fm10cs7bt74

Chú Giải Lê-vi Ký 23:15-22
Các Ngày Lễ Trọng Thể của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu – Phần 5
Lễ Ngũ Tuần

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Lê-vi Ký 23:15-22

15 Các ngươi sẽ đếm cho các ngươi, từ ngày sau ngày Sa-bát, từ ngày các ngươi đã đem bó lúa làm của lễ vẫy, chúng sẽ là trọn bảy lần Sa-bát,

{Ngày sau ngày Sa-bát đầu của Lễ Bánh Không Men, nhằm ngày 16 tháng Nisan, tức là tháng Một.}

16 cho tới ngày sau Sa-bát lần thứ bảy. Các ngươi sẽ đếm năm mươi ngày, và các ngươi sẽ dâng một của lễ chay mới lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

{Trong Tân Ước gọi là Lễ Ngũ Tuần, nhằm ngày 6 tháng Sivan, tức tháng Ba.}

17 Từ những nơi cư trú của các ngươi, các ngươi sẽ đem hai ổ bánh hai phần mười ê-pha bột lọc có pha men sẽ được nướng để làm của lễ dâng đưa qua đưa lại. Ấy là của đầu mùa dâng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

18 Các ngươi cũng sẽ dâng với bánh bảy chiên con một năm tuổi không tì vết, một bò con đực của bầy, và hai con chiên đực. Chúng sẽ là của lễ thiêu cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu với của lễ chay của chúng và của lễ thức uống của chúng. Một của lễ thiêu có mùi thơm thỏa lòng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

19 Các ngươi cũng sẽ dâng một dê con đực của những con dê làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con một năm tuổi làm của lễ giao hòa.

20 Thầy tế lễ sẽ dâng đưa qua đưa lại chúng với bánh đầu mùa, một sự dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, trên hai chiên con. Chúng sẽ là thánh cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, cho thầy tế lễ.

21 Các ngươi sẽ rao truyền vào chính ngày đó, ấy là một sự nhóm hiệp thánh cho các ngươi. Các ngươi sẽ không làm bất cứ công việc lao động nào. Nó sẽ là một lệ định vĩnh hằng trong mọi nơi cư trú của các ngươi, cho những thế hệ của các ngươi.

22 Khi các ngươi gặt mùa thu hoạch của đất các ngươi, các ngươi sẽ không gặt hết tận các cạnh của đồng ruộng các ngươi, khi các ngươi gặt. Các ngươi cũng sẽ không thu nhặt lúa sót từ vụ thu hoạch của các ngươi. Các ngươi hãy để lại chúng cho người nghèo và cho kẻ tạm cư. Ta, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa của các ngươi.”

Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tiếp tục học về các kỳ lễ hội của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, tức là các kỳ hẹn của Ngài đối với con dân của Ngài mà Ngài đã định sẵn. Chúng ta sẽ học về kỳ hẹn gọi là Lễ Ngũ Tuần, như đã được ghi lại trong Lê-vi Ký 23:15-22.

Trước hết, chúng ta cần ghi nhớ rằng, danh từ “Ngũ Tuần” là tiếng Hán Việt. Ngũ () có nghĩa là năm. Tuần () có nghĩa là chu kỳ 10 ngày. Vậy, “Lễ Ngũ Tuần” có nghĩa là lễ năm chu kỳ 10 ngày, tức 50 ngày. Danh từ “Ngũ Tuần” được dịch từ tiếng Hy-lạp “Pentēkostē” trong Thánh Kinh Tân Ước, có nghĩa là “năm mươi”, hàm ý: ngày thứ 50 từ ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa.

Thánh Kinh Cựu Ước gọi là “Lễ Các Tuần Lễ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:22; Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:10) và “Lễ Mùa Gặt” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:16).

Lê-vi Ký 23:15-16

15 Các ngươi sẽ đếm cho các ngươi, từ ngày sau ngày Sa-bát, từ ngày các ngươi đã đem bó lúa làm của lễ vẫy, chúng sẽ là trọn bảy lần Sa-bát,

16 cho tới ngày sau Sa-bát lần thứ bảy. Các ngươi sẽ đếm năm mươi ngày, và các ngươi sẽ dâng một của lễ chay mới lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Chúng ta đã học trong bài “Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa”, nhóm chữ “ngày sau ngày Sa-bát” chỉ về ngày kế tiếp sau ngày Sa-bát đầu tiên của Lễ Bánh Không Men, tức là ngày 16 tháng Nisan.

“Chúng sẽ là trọn bảy lần Sa-bát, cho tới ngày sau Sa-bát lần thứ bảy” có nghĩa là khoảng thời gian từ ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa cho tới ngày Lễ Ngũ Tuần bao gồm đủ bảy ngày Sa-bát cuối tuần.

“Các ngươi sẽ đếm năm mươi ngày” có nghĩa là ngày thứ năm mươi kể từ ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa sẽ là ngày Lễ Ngũ Tuần.

Vì ngày Sa-bát đầu của Lễ Bánh Không Men là ngày 15 tháng Nisan nên ngày thứ 50 sau đó luôn là ngày 6 tháng Sivan (tháng Ba). Ngày này không bao giờ rơi vào Thứ Năm hay Sa-bát cuối tuần.

Phần lớn các giáo hội mang danh Chúa tổ chức Lễ Bánh Không Men còn gọi là Lễ Phục Sinh vào Chủ Nhật đầu tiên, sau ngày trăng tròn đầu tiên sau tiết xuân phân, và Lễ Ngũ Tuần vào Chủ Nhật thứ tám, sau Chủ Nhật Lễ Phục Sinh. Điều đó khiến cho ngày Lễ Bánh Không Men và ngày Lễ Ngũ Tuần theo cách tính của họ không rơi vào một ngày cố định theo Lịch Hê-bơ-rơ. Và như vậy, hai ngày ấy không thể là “ngày đã định” của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Chúng ta đã học biết rằng, các ngày lễ hội của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là các ngày đã được Ngài ấn định theo lịch mà Ngài đã ban cho Môi-se, trước khi Ngài đem dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2). Vì vậy, không thể nào hai ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa và Lễ Ngũ Tuần lại có thể rơi vào các ngày khác nhau mỗi năm.

Lời Chúa đã quy định rõ cách đếm ngày để tính Lễ Ngũ Tuần:

“Ngươi phải đếm bảy tuần; bắt đầu đếm bảy tuần này từ ngày người ta tra lưỡi hái vào mùa gặt.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:9).

“Ngày mà người ta tra lưỡi hái vào mùa gặt” chính là ngày 16 tháng Nisan, khi bó lúa đầu mùa được gặt, dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, mở đầu cho mùa thu hoạch lúa mạch.

Ngoài ra, Đức Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá và chết vào ngày Lễ Vượt Qua, là ngày 14 tháng Nisan, được chôn vào buổi chiều hôm đó, trước khi mặt trời lặn. Sau ba ngày ba đêm thì Ngài đã sống lại vào chiều ngày 17 tháng Nisan, trước khi mặt trời lặn. Vì thế, nếu muốn tổ chức kỷ niệm sự phục sinh của Chúa thì phải tổ chức vào chiều ngày 17 tháng Nisan. Không thể tổ chức mừng Chúa phục sinh vào Chủ Nhật đầu tiên, sau ngày trăng tròn đầu tiên sau tiết xuân phân, khi ngày đó cách xa ngày Chúa thật sự phục sinh từ một tới bảy ngày, tùy theo năm.

“Của lễ chay mới” là của lễ làm bằng bột từ lúa mì mới gặt. Trước đó 49 ngày là Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa mà của lễ là một bó lúa mạch đầu mùa.

Lê-vi Ký 23:17

17 Từ những nơi cư trú của các ngươi, các ngươi sẽ đem hai ổ bánh hai phần mười ê-pha bột lọc có pha men sẽ được nướng để làm của lễ dâng đưa qua đưa lại. Ấy là của đầu mùa dâng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Từ những nơi cư trú của các ngươi” hàm ý dân I-sơ-ra-ên từ khắp nơi dâng hiến lên phần tốt nhất trong lúa mì vừa mới gặt và mang đến Đền Tạm hay Đền Thờ cho các thầy tế lễ làm bánh dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Các thầy tế lễ sẽ lấy một phần từ số lúa mì được dâng hiến đó, xay thành bột mịn, pha men, làm thành bánh nướng để làm của lễ.

Bánh tiêu biểu cho đời sống. Bánh pha men tiêu biểu cho đời sống vẫn còn vướng tội của con dân Chúa. Nhưng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vẫn chấp nhận họ, qua sự hiến dâng bởi thầy tế lễ.

Hai ổ bánh tiêu biểu cho dân I-sơ-ra-ên và các giống dân khác cũng có mặt trong cộng đồng I-sơ-ra-ên. Họ là những người Ê-díp-tô và những người thuộc các dân tộc khác sống trong xứ, bị thuyết phục bởi các phép lạ của Đức Chúa Trời, và chọn đi theo dân I-sơ-ra-ên, ra khỏi Ê-díp-tô.

“Và có vô số người thuộc các dân tộc cũng đi lên cùng họ, với những bầy chiên, những bầy bò… rất nhiều gia súc.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38).

Đó vừa là hình ảnh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu tiếp nhận các dân ngoại có đức tin nơi Ngài và cũng là hình ảnh Đấng Christ sẽ hiệp một các dân tộc khác với dân I-sơ-ra-ên trong Hội Thánh của Ngài, như đã được Sứ Đồ Phao-lô trình bày trong Rô-ma 11:11-24.

Hai ổ bánh, mỗi ổ được làm từ khoảng 2,2 lít bột nên kích thước khá lớn, được nướng trên lửa. Khi nướng chín thì bánh phồng to và thơm, làm thức ăn ngon miệng. Sự nướng bánh làm bằng bột pha men tiêu biểu cho sự đời sống còn vướng tội của con dân Chúa được Đức Thánh Linh thánh hóa, được Đấng Christ (Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Đời Đời) dâng lên Đức Chúa Trời. Lửa tiêu biểu cho sự thanh tẩy của Đức Thánh Linh, khiến cho đời sống của con dân Chúa được nên thánh và kết quả lành cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Của lễ dâng đưa qua đưa lại” là thầy tế lễ cầm bánh đã nướng chín trên tay, đưa qua đưa lại trước bàn thờ, dâng đời sống của con dân Chúa đã được thánh hóa lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Ấy là của đầu mùa dâng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” tức là của lễ đầu mùa gặt lúa mì. Sự dâng hiến ấy tiêu biểu cho sự Hội Thánh, bao gồm dân I-sơ-ra-ên và các dân ngoại, được Đức Thánh Linh thánh hóa, được Đấng Christ dâng lên Đức Chúa Trời. Hội Thánh là của lễ đầu mùa. Sau khi Hội Thánh được Đấng Christ đem ra khỏi thế gian sẽ có cơn gặt cuối mùa trong Kỳ Tận Thế. Khi ấy những người tin Chúa được gặt vào Vương Quốc Ngàn Năm, những người không tin Chúa bị gặt vào trong âm phủ, chờ ngày chịu phán xét trong ngày phán xét chung cuộc (Ma-thi-ơ 13:36-43).

Lê-vi Ký 23:18

18 Các ngươi cũng sẽ dâng với bánh bảy chiên con một năm tuổi không tì vết, một bò con đực của bầy, và hai con chiên đực. Chúng sẽ là của lễ thiêu cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu với của lễ chay của chúng và của lễ thức uống của chúng. Một của lễ thiêu có mùi thơm thỏa lòng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Bảy chiên con một năm tuổi không tì vết”: Trong Thánh Kinh, số 7 là con số của sự trọn vẹn, hoàn hảo thuộc linh, và sự hoàn tất theo ý định của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Việc dâng 7 chiên con biểu thị một của lễ thiêu trọn vẹn, hoàn hảo và toàn diện. Đây không phải là sự dâng hiến một phần, mà là sự dâng hiến hết lòng, đầy đủ nhất, tiêu biểu cho toàn bộ dân sự, thánh sạch và trưởng thành. Chiên con là sinh tế phổ biến nhất, tượng trưng cho sự vô tội, trong sạch, hiền lành và sẵn sàng chịu hy sinh. Chúng đại diện cho sự thờ phượng của những tấm lòng đơn sơ, khiêm nhường, và tin cậy. Bảy chiên con tượng trưng cho một sự dâng hiến trọn vẹn, hoàn hảo với tấm lòng đơn sơ, khiêm nhường của toàn thể cộng đồng con dân Chúa lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Một bò con đực”: Số 1 tượng trưng cho sự duy nhất, sự thống nhất, và sức mạnh toàn vẹn. So với chiên, bò là loài gia súc mạnh mẽ, có giá trị cao hơn, và gắn liền với công việc lao động nặng nhọc. Trong Thánh Kinh, bò đực thường tượng trưng cho sức mạnh, năng lực phục vụ, và sự hy sinh lớn lao. Đây là một của lễ có giá trị, đòi hỏi một sự hy sinh đáng kể từ người dâng. Một bò đực tượng trưng cho sự dâng hiến sức mạnh, năng lực, công sức lao động, và cả sự giàu có một cách trọn vẹn lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Nó đại diện cho sự phục vụ và hy sinh hết mình.

“Hai chiên con đực”: Số 2 trong Thánh Kinh mang ý nghĩa của sự chứng nhận, sự xác nhận, và sức mạnh của sự hiệp một (Phục Truyền Luật Lệ Ký 17:6, Truyền Đạo 4:9-12). Nó cũng tượng trưng cho sự đầy đủ trong chứng cớ. Khác với chiên con, chiên đực trưởng thành là lãnh đạo của bầy, biểu tượng của uy quyền, sự dẫn dắt và sức mạnh. Hai chiên đực có thể tượng trưng cho sự dâng hiến uy quyền và sự lãnh đạo của dân sự lên cho Đức Chúa Trời. Sự hiệp một và làm chứng của toàn thể cộng đồng (được đại diện bởi số 2) trong sự thờ phượng. Một của lễ vững chắc và trưởng thành, bổ sung cho sự đơn sơ của chiên con và sức mạnh của bò đực.

Khi kết hợp cả ba lại, chúng ta có một của lễ thiêu phong phú, đa chiều:

  • Bảy chiên con: Sự thờ phượng đơn sơ và trọn vẹn của mỗi cá nhân tín hữu.

  • Một bò đực: Sự phục vụ và dâng hiến sức lực, của cải một cách trọn vẹn của tập thể con dân Chúa.

  • Hai chiên đực: Sự lãnh đạo thuộc linh và sự hiệp một làm chứng của cộng đồng.

Của lễ này dạy chúng ta rằng sự thờ phượng và dâng hiến thật cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phải đến từ mọi khía cạnh của đời sống chúng ta: sự đơn sơ tin cậy, sức lực lao động, của cải vật chất, và cả sự lãnh đạo, hiệp một trong cộng đồng.

“Của lễ chay”: Bánh làm từ bột mịn nhồi với dầu ô-li-ve, biểu tượng cho nếp sống thánh khiết, thấm nhuần Lời Chúa và thánh linh của con dân Chúa được dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

“Của lễ thức uống”: Là rượu nho, được rưới ra trên bàn thờ, biểu tượng cho sự vui mừng, lòng biết ơn của con dân Chúa được dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Lê-vi Ký 23:19

19 Các ngươi cũng sẽ dâng một dê con đực của những con dê làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con một năm tuổi làm của lễ giao hòa.

“Các ngươi cũng sẽ dâng một dê con đực của những con dê làm của lễ chuộc tội”: Của lễ này giải quyết nan đề cơ bản nhất giữa loài người và Đấng Tự Hữu Hằng Hữu: “Tội lỗi”. Nó biểu tượng cho sự chết thay, gánh lấy hình phạt mà tội lỗi đáng phải chịu. Máu của con sinh tế được rưới lên bàn thờ để làm sạch và tẩy xóa tội lỗi của cá nhân hoặc cộng đồng.

Dù Lễ Ngũ Tuần là một dịp vui mừng (lễ mùa gặt), nó vẫn không thể thiếu của lễ chuộc tội. Điều này nhắc nhở rằng ngay cả trong những giờ phút vui mừng nhất, chúng ta vẫn cần được tha thứ và thanh tẩy để có thể đến gần Thiên Chúa thánh khiết. Nó đặt nền tảng cho tất cả các mối quan hệ khác với Thiên Chúa: Không có sự tha thứ, thì không có sự thờ phượng thật hay sự tương giao thật.

“Hai chiên con một năm tuổi làm của lễ giao hòa”: Đây là của lễ duy nhất mà người dâng lễ được ăn một phần sau khi phần béo tốt nhất đã dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu và phần còn lại cho thầy tế lễ. Nó biểu tượng cho sự thông công, bình an, là mối tương giao vui mừng với Thiên Chúa và với cộng đồng. Sau khi tội lỗi đã được xử lý qua của lễ chuộc tội, mối quan hệ đã được phục hồi. Của lễ giao hòa chính là sự ăn mừng cho mối quan hệ đã được giao hòa đó.

Lê-vi Ký 23:20

20 Thầy tế lễ sẽ dâng đưa qua đưa lại chúng với bánh đầu mùa, một sự dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, trên hai chiên con. Chúng sẽ là thánh cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, cho thầy tế lễ.

Câu này nói về cách thức thầy tế lễ dâng hai con chiên con của lễ giao hòa với bánh đầu mùa. Thầy tế lễ đặt phần ức hoặc đùi của sinh tế lên trên hai ổ bánh, rồi dùng tay cầm toàn bộ và thực hiện động tác đưa qua đưa lại. Cách này kết hợp cả lễ vật động vật và thực vật thành một cử chỉ dâng hiến duy nhất.

“Chúng sẽ là thánh cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, cho thầy tế lễ”: Có nghĩa là của lễ được Đấng Tự Hữu Hằng Hữu tiếp nhận và Ngài ban lại một phần cho thầy tế lễ.

Tiến trình dâng của lễ là như sau:

  • Con sinh bị giết.

  • Mỡ và cái đuôi nguyên, chặt gần cuối xương sống, mỡ bọc ngoài bộ lòng và mỡ bộ lòng, hai trái cật, mỡ trên hai trái cật nơi cạnh hông, và tấm da mỏng bọc gan, gỡ gần nơi hai trái cật của mỗi con chiên được tách ra và thiêu trên bàn thờ (Lê-vi Ký 3:9-10). Đây là phần dành cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, là của lễ thiêu có mùi thơm làm vui lòng Ngài.

  • Phần ức và cái giò bên phải của mỗi con được dành cho thầy tế lễ (Lê-vi Ký 7:31-34).

  • Phần thịt còn lại phải thiêu trên lửa (Lê-vi Ký 6:30) để thanh tẩy vật thánh, không ai được ăn, vì là của lễ tập thể.

Riêng của lễ giao hòa của cá nhân thì phần thịt thuộc về người dâng và phải được ăn hết trong ngày (Lê-vi Ký 7:15).

Lê-vi Ký 23:21

21 Các ngươi sẽ rao truyền vào chính ngày đó, ấy là một sự nhóm hiệp thánh cho các ngươi. Các ngươi sẽ không làm bất cứ công việc lao động nào. Nó sẽ là một lệ định vĩnh hằng trong mọi nơi cư trú của các ngươi, cho những thế hệ của các ngươi.

“Các ngươi sẽ rao truyền vào chính ngày đó”: Sự rao truyền ở đây có nghĩa là nhóm hiệp mọi người lại để công bố một cách long trọng. Điều này ngụ ý rằng ngày lễ phải được công bố một cách chính thức và trang trọng ngay trong ngày lễ, khẳng định sự quan trọng của nó.

“Ấy là một sự nhóm hiệp thánh cho các ngươi”: Đây là một thuật ngữ quan trọng. Nó có nghĩa là “một sự tập trung được biệt riêng ra làm thánh”. Vào ngày này, toàn thể cộng đồng I-sơ-ra-ên được triệu tập để nhóm lại với nhau cho mục đích thờ phượng và ghi nhớ ơn phước Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã ban cho họ. Nó nhấn mạnh tính cộng đồng và tính thiêng liêng của ngày lễ.

“Các ngươi sẽ không làm bất cứ công việc lao động nào”: Đây là đặc điểm xác định một “ngày Sa-bát” (ngày nghỉ) theo nghi lễ. Lễ Ngũ Tuần, mặc dù không phải là ngày Sa-bát Thứ Bảy hàng tuần, nhưng được xem là một “Sa-bát của lễ trọng thể”. “Công việc lao động” chỉ những công việc nghề nghiệp, việc buôn bán, việc đồng áng, hay bất cứ công việc sản xuất, kinh tế, xây dựng, sửa chữa thông thường nào. Việc cấm này có mục đích:

  • Giúp mọi người hoàn toàn rảnh tay để tập trung vào việc thờ phượng Thiên Chúa.

  • Nhấn mạnh rằng sự nghỉ ngơi và sự cứu rỗi là món quà đến từ Thiên Chúa.

“Nó sẽ là một lệ định vĩnh hằng”: Mệnh đề này khẳng định tính vĩnh cửu và bất biến của mệnh lệnh. Đây không phải là một luật tạm thời, mà là một quy định tồn tại mãi mãi trong giao ước giữa Đấng Tự Hữu Hằng Hữu và dân I-sơ-ra-ên.

“Trong mọi nơi cư trú của các ngươi, cho những thế hệ của các ngươi”: Điều khoản này rất quan trọng. Nó có nghĩa là mệnh lệnh này vẫn có hiệu lực ngay cả khi dân I-sơ-ra-ên bị lưu đày và không còn ở trong Đất Hứa. Dù họ sống ở đâu, họ vẫn phải tuân giữ ngày lễ này, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này có nghĩa là các cộng đồng I-sơ-ra-ên vẫn phải tiếp tục giữ Lễ Ngũ Tuần trên khắp thế giới sau này.

Lê-vi Ký 23:22

22 Khi các ngươi gặt mùa thu hoạch của đất các ngươi, các ngươi sẽ không gặt hết tận các cạnh của đồng ruộng các ngươi, khi các ngươi gặt. Các ngươi cũng sẽ không thu nhặt lúa sót từ vụ thu hoạch của các ngươi. Các ngươi hãy để lại chúng cho người nghèo và cho kẻ tạm cư. Ta, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa của các ngươi.”

Lễ Ngũ Tuần là lễ mừng mùa gặt. Trong không khí của sự dư dật và tạ ơn Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vì hoa lợi Ngài ban cho, Ngài nhắc nhở dân sự của Ngài đừng trở nên ích kỷ. Lòng nhân từ trong việc thu hoạch phải là một phần không thể tách rời của lễ tạ ơn. Sự thờ phượng trong Đền Tạm hay Đền Thờ phải đi đôi với sự nhân từ ngoài đồng ruộng.

“Không gặt hết tận các cạnh của đồng ruộng” và “không thu nhặt lúa sót”: Đây không phải là một đề nghị từ thiện, mà là một luật lệ bắt buộc. Đấng Tự Hữu Hằng Hữu xác định rõ phần hoa lợi mà chủ đất không được phép thu về. Điều này tạo ra một “mạng lưới an sinh xã hội” được thiết lập sẵn, cho phép người nghèo làm việc để kiếm lương thực cho chính họ một cách đầy phẩm giá.

“Hãy để lại chúng cho người nghèo và cho kẻ tạm cư”: Đối tượng được hưởng lòng nhân từ này là những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Người nghèo là người trong cộng đồng không có đất đai hoặc tài sản. Kẻ tạm cư là người nước ngoài sống giữa dân I-sơ-ra-ên, thường không có quyền sở hữu đất và dễ bị bóc lột. Việc bao gồm họ cho thấy sự quan tâm của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vượt ra ngoài biên giới sắc tộc.

Việc để lại hoa lợi không phải chỉ vì lòng tốt, mà là vì:

  • Quyền sở hữu tối thượng thuộc về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu: Đất đai và mùa màng thực chất đều thuộc về Thiên Chúa (Lê-vi Ký 25:23). Dân I-sơ-ra-ên chỉ là những người quản lý. Vì vậy, việc “để lại” thực chất là trả lại một phần của Chúa cho những người Ngài quan tâm.

  • Bản tính của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu: Vì Ngài là Đấng giàu lòng từ ái và thương xót nên dân sự của Ngài cũng phải phản chiếu bản tính đó. Lòng từ ái là một sự đáp lại đức tin đối với Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Lê-vi Ký 23:22 dạy chúng ta rằng:

Sự thờ phượng chân thật phải dẫn đến hành động yêu thương. Lòng biết ơn đối với Thiên Chúa phải được thể hiện qua lòng nhân ái đối với người lân cận.

Sự thịnh vượng đi kèm với trách nhiệm xã hội. Những người được ban cho dư dật có bổn phận chăm sóc những người thiếu thốn.

Phẩm giá của người nhận. Thay vì chỉ ban phát, mô hình này cho phép người nghèo tự mình làm việc để kiếm lương thực, bảo vệ phẩm giá của họ.

Đây là một phần của sự công bình. Đối với Thiên Chúa, việc chăm sóc người nghèo và người yếu thế không phải là một lựa chọn từ thiện, mà là một yêu cầu công bình.

Đối với con dân Chúa ngày nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị:

Chúng ta được kêu gọi để “gặt” (kiếm tiền, thu thập của cải) với một thái độ rộng lượng, chủ động để lại một phần cho những người có nhu cầu.

Sự dâng hiến và thờ phượng của chúng ta sẽ không trọn vẹn nếu chúng ta bỏ qua người nghèo khó và thiếu thốn chung quanh mình (Gia-cơ 2:15-17).

Điều này nhắc nhở chúng ta rằng mọi thứ chúng ta có đều đến từ Thiên Chúa, và chúng ta là những quản gia của những phước lành đó.

Trong thời Cựu Ước, Lễ Ngũ Tuần về mặt thuộc thể là lễ tạ ơn của dân I-sơ-ra-ên đối với Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, về ơn phước Ngài ban cho họ qua sự thu hoạch nông sản chính là lúa mì. Về mặt thuộc linh, người I-sơ-ra-ên liên kết Lễ Ngũ Tuần với ngày Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ban hành Mười Điều Răn và luật pháp cho họ từ trên Núi Si-na-i. Đó là ngày dân tộc và quốc gia I-sơ-ra-ên chính thức được khai sinh, tiếp nhận danh phận con dân của Thiên Chúa và luật pháp của Ngài. Luật pháp của Thiên Chúa được chính Ngài chép trên hai bảng đá và được Môi-se ghi lại trên sách. Dân I-sơ-ra-ên trở thành một vương quốc thầy tế lễ, một dân tộc thánh cho Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6).

Trong thời Tân Ước, Lễ Ngũ Tuần là ngày Đức Chúa Jesus Christ thành lập Hội Thánh của Ngài, bao gồm bất cứ ai thật lòng ăn năn tội và hoàn toàn tin nhận sự chết chuộc tội của Ngài. Đó cũng là ngày Đấng Thần Linh giáng lâm và ở lại với Hội Thánh, ngự trong thân thể xác thịt của mỗi con dân Chúa với danh xưng “Đức Thánh Linh”, ấn chứng rằng họ thuộc về Đức Chúa Trời. Các điều răn và luật pháp của Thiên Chúa được Đức Thánh Linh viết trong thần trí của con dân Chúa, làm ứng ngiệm các lời tiên tri trong Cựu Ước:

“Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán: Này là giao ước mà Ta sẽ cắt với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp của Ta bên trong chúng nó và chép trong lòng của chúng nó. Ta sẽ làm Thiên Chúa của chúng nó và chúng nó sẽ làm dân Ta.” (Giê-rê-mi 31:33).

“Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi và Ta sẽ đặt thần trí mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi xác thịt của các ngươi và Ta sẽ ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt thần trí của Ta trong các ngươi và khiến các ngươi đi theo các luật lệ của Ta, thì các ngươi sẽ giữ các mệnh lệnh của Ta và làm theo.” (Ê-xê-chi-ên 36:26-27).

“Ấy là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày đó, Chúa phán, ban cho những luật pháp của Ta vào trong tâm trí của họ và ghi chúng lên trên những tấm lòng của họ. Ta sẽ là Thiên Chúa đối với họ và họ sẽ là dân chúng đối với Ta.” (Hê-bơ-rơ 8:10).

“Chúa phán: Này, giao ước mà Ta sẽ lập với họ sau những ngày đó. Ta sẽ ban các luật pháp của Ta trong những tấm lòng của họ, và trong những tâm trí của họ Ta sẽ ghi chúng.” (Hê-bơ-rơ 10:16).

Lễ Ngũ Tuần ngoài sự tiêu biểu cho mùa gặt thuộc linh là sự thành lập Hội Thánh cũng rất có thể cũng tiêu biểu cho sự Đấng Christ cất Hội Thánh ra khỏi thế gian.

Trong Cựu Ước, đây là lễ thu hoạch lúa mì, là vụ mùa chính. Việc Đấng Christ cất Hội Thánh (là “cơ nghiệp” của Ngài, “mùa gặt” của Ngài) vào đúng ngày này sẽ là một sự ứng nghiệm biểu tượng hoàn hảo. Ngài gặt hái những gì Ngài đã gieo và chuộc lấy.

Có một sự đối xứng đẹp đẽ: Hội Thánh được sinh ra vào Lễ Ngũ Tuần (Công Vụ Các Sứ Đồ 2) và Hội Thánh được cất lên trong sự vinh hiển cũng vào Lễ Ngũ Tuần. Điều này tạo thành một vòng tròn trọn vẹn.

Hai ổ bánh có men trong Lễ Ngũ Tuần Cựu Ước được xem là hình bóng về Hội Thánh gồm người I-sơ-ra-ên và các dân ngoại được Đấng Christ trình dâng lên cho Đức Chúa Trời.

Vì thế, mỗi năm, khi đến kỳ Lễ Ngũ Tuần, dù không còn bị ràng buộc phải giữ lễ nhưng con dân Chúa cũng nên nhóm hiệp với tinh thần tạ ơn và suy ngẫm về những ơn phước Đức Chúa Trời đã ban cho trong cuộc sống. Đồng thời cũng hướng lòng về sự Đấng Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, vào trong thiên đàng. Một sự nhóm hiệp như vậy chắc chắn là đẹp lòng Đức Chúa Trời và sẽ mang lại nhiều phước hạnh cho con dân Chúa. Điều phước hạnh lớn nhất sẽ là nếu Đấng Christ đến, Ngài thấy Hội Thánh đang đón chờ Ngài.

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
15/11/2025

Ghi Chú

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Xin Mãi Thuộc về Ngài”:

https://karaokethanhca.net/xin-mai-thuoc-ve-ngai/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.