Chú Giải Lê-vi Ký 23:9-14 Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa

539 views

YouTube: https://youtu.be/JGKjbcO7q_A

Chú Giải Lê-vi Ký 23:9-14
Các Ngày Lễ Trọng Thể
của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu – Phần 4
Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Lê-vi Ký 23:9-14

9 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã phán với Môi-se rằng:

10 “Hãy nói với con cháu của I-sơ-ra-ên và nói với họ: Khi các ngươi vào trong đất mà Ta ban cho các ngươi và các ngươi sẽ gặt mùa thu hoạch của nó, thì các ngươi sẽ đem đến thầy tế lễ bó lúa đầu mùa của các ngươi.

11 Người sẽ vẫy bó lúa trước mặt Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, để được vui nhận cho các ngươi. Vào ngày sau ngày Sa-bát thầy tế lễ sẽ vẫy nó.

{Sau ngày Sa-bát đầu của Lễ Bánh Không Men. Vẫy là cầm bó lúa trong tay đưa lên đưa xuống.}

12 Vào ngày vẫy bó lúa của các ngươi, các ngươi sẽ dâng một chiên con một năm tuổi, không tì vết, làm của lễ thiêu cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

13 Và của lễ chay của nó là hai phần mười ê-pha bột lọc trộn với dầu, là một của lễ thiêu, có mùi thơm thoả lòng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; và của lễ thức uống của nó là một phần tư hin rượu nho.

{Một ê-pha tương đương 5,812 gallons hoặc 22 lít. Một hin tương đương 1 gallon hoặc 3,7 lít.}

14 Các ngươi sẽ không ăn bánh, hoặc lúa rang, hoặc lúa non cho tới chính ngày này mà các ngươi đã đem của lễ dâng lên Thiên Chúa của mình. Ấy là một lệ định vĩnh hằng cho những thế hệ của các ngươi trong mọi nơi cư trú của các ngươi.

Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau tiếp tục học về các kỳ lễ hội của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, tức là các kỳ hẹn của Ngài đối với con dân của Ngài mà Ngài đã định sẵn. Chúng ta sẽ học về kỳ hẹn gọi là Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, như đã được ghi lại trong Lê-vi Ký 23:9-14.

Lê-vi Ký 23:9-10

9 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã phán với Môi-se rằng:

10 “Hãy nói với con cháu của I-sơ-ra-ên và nói với họ: Khi các ngươi vào trong đất mà Ta ban cho các ngươi và các ngươi sẽ gặt mùa thu hoạch của nó, thì các ngươi sẽ đem đến thầy tế lễ bó lúa đầu mùa của các ngươi.

Sau khi phán dạy về sự dân I-sơ-ra-ên phải giữ Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men, thì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu tiếp tục phán bảo Môi-se về việc dân I-sơ-ra-ên phải giữ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa.

Theo lời phán của Thiên Chúa trong câu 10, chúng ta có thể hiểu rằng lễ này sẽ chỉ được bắt đầu giữ, sau khi dân I-sơ-ra-ên đã vào trong Đất Hứa Ca-na-an.

Mùa thu hoạch tại Ca-na-an gồm có ba thời vụ. Thời vụ thứ nhất là thu hoạch lúa mạch đầu mùa, vào khoảng tháng 3-4 Dương Lịch, trùng với thời điểm của Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men. Vì thế, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa được thiết lập tiếp liền theo ngày đầu của Lễ Bánh Không Men, nhằm ngày 16 tháng Nisan.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa bao gồm các ý nghĩa sau đây:

Đó là lễ mừng vụ thu hoạch đầu tiên trong năm, bắt đầu với vụ lúa mạch. Việc dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu bó lúa đầu tiên là một hành động tạ ơn Ngài vì Ngài đã ban cho mùa màng, và cũng là sự thừa nhận rằng mọi sự đến từ Ngài. Chính Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là chủ đất và chủ mùa màng, mọi hoa mầu đều thuộc về Ngài, không thuộc về loài người. Sự dâng hiến là sự hoàn trả những gì thuộc về Ngài, không phải là sự “làm ơn” hay “biếu xén” cho Ngài.

Đó là một sự tuyên xưng đức tin. Tin rằng, khi dâng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phần tốt nhất và đầu tiên, thì Ngài sẽ ban phước và bảo vệ phần còn lại của vụ mùa. Đồng thời thể hiện lòng trung tín vâng phục mệnh lệnh của Ngài, tin cậy nơi sự chu cấp của Ngài.

Đó là lời hứa chắc chắn về sự Đấng Tự Hữu Hằng Hữu sẽ ban cho dân I-sơ-ra-ên lãnh thổ để hình thành một quốc gia. Tại Núi Si-na-i, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã thiết lập dân I-sơ-ra-ên thành một dân tộc thuộc về Ngài, họ có danh phận, có luật pháp do Ngài ban hành nhưng họ chưa có lãnh thổ. Chỉ khi vào đến Đất Hứa Ca-na-an thì họ mới có lãnh thổ để thực thi danh phận và luật pháp đó.

Đó là sự nhắc nhở con cháu I-sơ-ra-ên rằng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã giải phóng dân tộc họ ra khỏi ách nô lệ của xứ Ê-díp-tô và ban cho họ vùng đất màu mỡ, đượm sữa và mật. Vì thế, họ có bổn phận biết ơn Ngài và thờ phượng Ngài.

Khi xét về phương diện hình bóng thì chúng ta có thể hiểu rằng Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa tiêu biểu cho sự phục sinh của chính Đức Chúa Jesus Christ, sự phục sinh của con dân Chúa thuộc về Hội Thánh, trong ngày Đấng Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian. Thánh Kinh gọi Đức Chúa Jesus Christ là “trái đầu mùa của những người ngủ” và gọi Hội Thánh là “trái đầu mùa của những tạo vật của Ngài”.

I Cô-rinh-tô 15:20-23

20 Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã được sống lại từ những người chết, trở thành trái đầu mùa của những người ngủ.

21 Vì sự chết đến bởi một người, thì sự sống lại của những kẻ chết cũng đến bởi một người.

22 Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng vậy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ được sống lại.

23 Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; sau đó, là những ai thuộc về Đấng Christ, trong sự đến của Ngài.

“Ấy chính Ngài theo ý muốn mình, đã dùng Lời của Lẽ Thật sinh chúng ta, để cho chúng ta trở nên những trái đầu mùa của những tạo vật của Ngài.” (Gia-cơ 1:18).

Vì thế, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa cũng có thể là thời điểm Đấng Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, trước Kỳ Tận Thế.

Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa cũng có thể là hình bóng cho sự 144.000 người được Đấng Tự Hữu Hằng Hữu chọn riêng cho Ngài từ trong muôn dân, như đã được tiên tri trong Khải Huyền 14:1-5. Họ khác với 144.000 người sẽ được chọn ra từ trong 12 chi phái I-sơ-ra-ên liền trước Kỳ Tận Thế, như đã được tiên tri trong Khải Huyền 7:4.

Trong thời Cựu Ước, thầy tế lễ là người trung gian giúp dân sự dâng của lễ lên Thiên Chúa. Vì thế, bó lúa đầu mùa phải được trao cho thầy tế lễ để thầy tế lễ làm nghi thức dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Trong thời Tân Ước, mỗi con dân Chúa là một thầy tế lễ có thể tự mình dâng các của lễ lên Thiên Chúa, ngoại trừ của lễ chuộc tội đã được Đức Chúa Jesus Christ là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Đời Đời đã dâng một lần đủ cả, tại trong Nơi Thánh trên trời (Hê-bơ-rơ 9:11-12, 24; 10:14). Trong thời Tân Ước, con dân Chúa không còn dâng các của lễ bằng sinh vật, hoặc bánh, hoặc rượu, dầu, nhũ hương nhưng họ dâng chính thân thể mình và những việc làm lành cùng sự thông công (Rô-ma 12:1; Hê-bơ-rơ 13:16). Sự làm những việc lành đòi hỏi sự hy sinh thời gian, công sức, tiền bạc và các của cải vật chất khác. Đó chính là những “bó lúa đầu mùa” của con dân Chúa dâng lên Thiên Chúa. Sự thông công là sự thể hiện tình yêu của con dân Chúa đối với nhau, yêu nhau và chăm sóc lẫn nhau, như Chúa đã yêu họ và chăm sóc họ.

Vào buổi ban đầu, sau khi vào trong Đất Hứa Ca-na-an, trong thời kỳ của Đền Tạm và Đền Thờ Thứ Nhất, dân I-sơ-ra-ên gặt bó lúa mạch đầu mùa rồi đem bó lúa ấy đến Đền Tạm hoặc Đền Thờ, trao cho các thầy tế lễ. Họ có thể gặt lúa vào buổi sáng sớm của ngày 16 tháng Nisan. Một trong các thầy tế lễ trực vào ngày hôm đó sẽ dâng bó lúa ấy lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Có lẽ là cùng dâng trong khi dâng của lễ buổi sáng.

Lê-vi Ký 23:11

11 Người sẽ vẫy bó lúa trước mặt Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, để được vui nhận cho các ngươi. Vào ngày sau ngày Sa-bát thầy tế lễ sẽ vẫy nó.

Thầy tế lễ sẽ vẫy bó lúa đầu mùa trước bàn thờ trong Đền Tạm hoặc Đền Thờ. Hành động vẫy là cầm bó lúa trong tay đưa lên cao, đưa xuống thấp, đi tới, đi lui để tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa, nhận rằng những hoa quả của đất và vụ mùa phong phú đều thuộc về Ngài, và để dâng lên Ngài lời ca ngợi và tôn vinh Ngài về điều đó. Chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nói về việc phải vẫy bó lúa lên xuống mấy lần và phải đi tới lui mấy lần. Sự vẫy lên xuống có lẽ tiêu biểu cho sự công nhận Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là Chúa của các tầng trời và đất. Sự đi tới lui giữa bàn thờ và dân sự có lẽ tiêu biểu cho sự trung gian của thầy tế lễ giữa Đấng Tự Hữu Hằng Hữu và con dân của Ngài. Thầy tế lễ thay dân sự làm việc dâng hiến và nhận lãnh sự vui nhận, ban phước của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu cho con dân của Ngài.

Sự vâng phục mệnh lệnh của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, thi hành Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa là điều đẹp lòng Ngài, và chính vì thế mà Ngài vui nhận của lễ và ban phước cho dân sự.

Mệnh đề “Vào ngày sau ngày Sa-bát” được hiểu theo hai cách khác nhau.

Người Sa-đu-sê hiểu “Sa-bát” là ngày Thứ Bảy cuối tuần. Vì vậy, theo họ, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa luôn rơi vào Chủ Nhật đầu tiên, sau kỳ Lễ Bánh Không Men.

Người Pha-ri-si hiểu “Sa-bát” là ngày nghỉ lễ trọng thể đầu tiên của Lễ Bánh Không Men, tức là ngày 15 Tháng Nisan. Vì vậy, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa luôn diễn ra vào ngày 16 Tháng Nisan.

Chúng tôi tin rằng cách hiểu của người Pha-ri-si là đúng Thánh Kinh. Vì nó đúng với văn mạch của Thánh Kinh và khiến cho ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa luôn là ngày 16 Tháng Nisan, ngày Lễ Ngũ Tuần theo sau nó 49 ngày luôn là ngày 6 Tháng Sivan. Có như vậy thì chúng mới là “kỳ đã định” của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Nếu hiểu theo cách của người Sa-đu-sê thì ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa và ngày Lễ Ngũ Tuần sẽ không có ngày cố định, dù cả hai luôn rơi vào Chủ Nhật. Như vậy, chúng không thể là “kỳ đã định” của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Truyền thống Do-thái ngày nay theo cách hiểu của người Pha-ri-si. Nhiều giáo hội mang danh Chúa chọn cách tính ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa và ngày Lễ Ngũ Tuần theo cách hiểu của người Sa-đu-sê. Vì họ tin theo giáo lý của Công Giáo dạy rằng Đức Chúa Jesus chịu chết vào chiều Thứ Sáu và Phục Sinh vào sáng sớm Chủ Nhật. Cho nên theo họ ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa phải là Chủ Nhật. Mà hễ ngày Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa là Chủ Nhật thì đương nhiên ngày Lễ Ngũ Tuần theo sau nó 49 ngày cũng rơi vào Chủ Nhật.

Trong khoảng thời gian chừng 400 năm, từ sau Tiên Tri Ma-la-chi đến thời của Đức Chúa Jesus, là khoảng thời gian Đấng Tự Hữu Hằng Hữu im lặng đối với dân I-sơ-ra-ên, thì Do-thái Giáo đã nổi lên và tạo ra nhiều luật lệ sai nghịch Lời Chúa. Chính Đức Chúa Jesus đã nhiều lần chỉ trích các luật lệ của Do-thái Giáo. Họ làm cho luật pháp của Đức Chúa Trời trở nên nặng nề và phức tạp, thành gánh nặng cho con dân Chúa. Họ biến sự thờ phượng thành những nghi thức máy móc, cứng nhắc, vô lý. Điển hình là trong ngày Sa-bát không được đi xa hơn 2.000 cu-bít (khoảng 1,2 km); không được viết đến hai mẫu tự hay xóa đến hai mẫu tự; không được mang vác một vật từ nơi riêng tư sang nơi công cộng hay ngược lại; không được chữa bệnh ngoại trừ trường hợp nguy đến tính mạng.

Về Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa, Do-thái Giáo cũng đã đặt ra các quy định không có trong Thánh Kinh. Chúng tôi xin trích dẫn từ một bài viết, nói về cách dân I-sơ-ra-ên giữ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa trong thời kỳ Đền Thờ Thứ Nhì:

Các thầy tế lễ sẽ đánh dấu và dành riêng một phần ruộng lúa mạch của họ để gặt bó lúa đầu tiên, vào ngày 16 tháng Nisan. Ruộng lúa mạch này được canh tác chỉ để dùng cho việc dâng bó lúa đầu mùa. Tòa Công Luận chịu trách nhiệm về cánh đồng này trong công việc canh tác, chăm sóc, bảo quản.

Sau khi mặt trời lặn ngày 15 tháng Nisan, là lúc ngày 16 bắt đầu, ba thành viên của Tòa Công Luận đi từ Đền Thờ đến cánh đồng để gặt bó lúa mạch dùng làm của lễ dâng. Với ba cái liềm và ba cái giỏ, họ chuẩn bị để gặt bó lúa sẽ được dâng trong Đền Thờ. Dân chúng theo sau và đứng chung quanh để chứng kiến sự gặt lúa. Khi mặt trời lặn và ngày mới bắt đầu (ngày 16 Tháng Nisan), ba thành viên của Tòa Công Luận lần lượt hỏi dân chúng:

“Mặt trời đã lặn chưa?”

“Bằng cái liềm này phải không?”

“Vào giỏ này phải không?”

“Trong ngày Sa-bát này phải không?”

“Tôi có nên gặt bây giờ không?”

Khi đám đông đáp lại với lời khẳng định, những người ấy lặp lại việc gặt thêm hai lần, như một biện pháp bảo đảm. Việc gặt tiếp tục cho tới khi thu được khoảng hai phần ba giạ lúa vào ba cái giỏ.

Ba giỏ lúa mạch sau đó được đem đến Đền Thờ để đập lấy hạt bằng những cây gậy, nhằm giữ cho các bông lúa được nguyên vẹn. Tiếp theo, lúa mạch được rang trên lửa và rảy lên trong gió để tách trấu ra. Lúa mạch sau đó được xay và rây cho đến khi trở thành một thứ bột rất mịn. Những người kiểm tra phải có thể thọc tay vào bột lúa mạch mà khi rút tay ra không có một chút bột nào dính lại trên tay.

Vào buổi sáng ngày 16 tháng Nisan, công việc dâng lúa đầu mùa từ vụ gặt lúa mạch được trình lên cho Thiên Chúa trong Đền Thờ. Một “ô-me” (khoảng 2,3 lít) bột lúa mạch được trộn với ¾ “cốc” (khoảng 0,35 lít) dầu ô-li-ve, cùng với một ít nhũ hương; đây chính là của lễ lúa đầu mùa. Thầy tế lễ sẽ đưa của lễ này qua lại trước mặt Thiên Chúa, đốt một phần trên bàn thờ và phần còn lại thì giao cho những người Lê-vi [1].

Rõ ràng là thay vì thầy tế lễ dâng bó lúa đầu mùa lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu thì lại dâng bánh làm bằng bột lúa mạch. Và cách thức gặt bó lúa đầu mùa như vậy không hề được nói đến trong Thánh Kinh. Sự biệt riêng một khu ruộng để trồng và gặt bó lúa đầu mùa làm mất đi ý nghĩa chính là bó lúa đầu mùa phải được gặt từ ruộng của dân chúng một cách bình thường, trước khi mùa gặt chính thức bắt đầu. Khi bó lúa được gặt từ bất cứ miếng ruộng nào trong dân chúng thì bó lúa đó mới tiêu biểu cho toàn thể vụ mùa trong dân I-sơ-ra-ên. Ngày gặt bó lúa đầu mùa là ngày sau ngày Sa-bát, không phải ngày Sa-bát. Vì vậy, câu hỏi “Trong ngày Sa-bát này phải không?” là vô lý.

Hiện nay, dân I-sơ-ra-ên không còn giữ Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa như vậy nữa, vì họ không còn có Đền Thờ.

Lê-vi Ký 23:12-13

12 Vào ngày vẫy bó lúa của các ngươi, các ngươi sẽ dâng một chiên con một năm tuổi, không tì vết, làm của lễ thiêu cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

13 Và của lễ chay của nó là hai phần mười ê-pha bột lọc trộn với dầu, là một của lễ thiêu, có mùi thơm thoả lòng cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; và của lễ thức uống của nó là một phần tư hin rượu nho.

“Vào ngày vẫy bó lúa” là vào ngày sau ngày Sa-bát đầu của Lễ Bánh Không Men, tức là ngày 16 Tháng Nisan. Chính trong ngày đó, ngoài lễ thường dâng mỗi sáng và tối, dân I-sơ-ra-ên phải dâng thêm các của lễ được nêu ra trong câu 12 và 13.

  • Một chiên con một năm tuổi, không tì vết, làm của lễ thiêu. Của lễ thiêu được thiêu trọn vẹn trên bàn thờ, tiêu biểu cho sự hiến dâng trọn vẹn và sự vâng phục tuyệt đối lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Của lễ này đi kèm với bó lúa đầu mùa cho thấy toàn bộ mùa gặt và đời sống của con dân Chúa đều phải được hiến dâng lên Ngài.

  • Của lễ chay (bột lọc nhồi dầu) và của lễ quán (rượu). Đây là những sản phẩm tinh túy nhất của đất đai. Chúng tượng trưng cho cuộc sống hàng ngày, sự nuôi dưỡng và sự vui mừng. Của lễ chay và của lễ thức uống đi kèm, nhắc nhở rằng sự hiến dâng lên Chúa không tách rời khỏi những điều thực tế căn bản như thức ăn và niềm vui trong đời sống. Bột lọc tiêu biểu cho đời sống thánh khiết, dầu tiêu biểu cho thánh linh và Lời Chúa. Rượu tiêu biểu cho sự thỏa lòng và sự vui mừng của đời sống trong Chúa.

Lê-vi Ký 23:14

14 Các ngươi sẽ không ăn bánh, hoặc lúa rang, hoặc lúa non cho tới chính ngày này mà các ngươi đã đem của lễ dâng lên Thiên Chúa của mình. Ấy là một lệ định vĩnh hằng cho những thế hệ của các ngươi trong mọi nơi cư trú của các ngươi.

Sự không ăn bánh, hoặc lúa rang, hoặc lúa non là sự không ăn từ lúa mạch mới, khi bó lúa đầu mùa chưa được dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Ngay sau khi bó lúa đầu mùa được dâng lên thì trong ngày ấy, dân I-sơ-ra-ên có thể gặt lúa về làm bánh, hoặc rang và ăn. Lúa mạch non có thể được ăn sống tương tự như người Việt và người Khmer ăn cốm dẹp. Vì có nhiều thửa ruộng được gieo trồng sớm muộn cách nhau từ một đến hai tháng nên vào thời điểm thu hoạch đầu mùa sẽ có thửa ruộng lúa còn non.

Cốm dẹp (hay còn gọi là cốm dẹt) là món đặc sản truyền thống của người Khmer ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam, đặc biệt phổ biến ở các tỉnh như An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, và Bạc Liêu. Đây là loại cốm được làm từ nếp non (lúa nếp non, gặt khi hạt còn sữa, thường vào tháng 10-11 Âm Lịch), có vị ngọt bùi tự nhiên, dẻo mềm, màu xanh nhạt và thơm nhẹ [2].

Toàn bộ vụ mùa mới đang ở trước mắt, nhưng dân sự của Chúa phải kiêng không đụng đến, cho tới khi phần đầu tiên và tốt nhất đã được dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Đây là bài học thực tiễn về sự kỷ luật và kiên nhẫn cùng với lòng tôn kính và vâng phục Thiên Chúa.

Sự vâng theo mệnh lệnh này của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thể hiện rằng: Tất cả mọi sự thuộc về Thiên Chúa. Con dân Chúa sẽ không hưởng thụ bất cứ thứ gì cho tới khi Ngài đã nhận lấy phần của Ngài trước.

Mệnh lệnh này đưa ra nguyên tắc “Đến Trước Chúa Trước”. Đây là nguyên tắc của đức tin và sự vâng phục. Chúa phải có vị trí đầu tiên trong mọi sự vì Ngài là Đấng tạo nên muôn vật, đứng đầu muôn vật, và muôn vật chỉ có thể tồn tại trong Ngài.

Mệnh đề “chính ngày này” đặt ra một giới hạn thánh. Nhưng giới hạn đó không phải để tước đoạt, mà để ban phước. Nó đảm bảo rằng mọi sự con dân Chúa nhận được sau đó đều đã được thánh hóa, vì họ đã tôn trọng nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất: Mọi sự đều đến từ Thiên Chúa và thuộc về Thiên Chúa, con dân Chúa phải thể hiện lòng biết ơn và tôn kính Thiên Chúa bằng cách dâng lễ vật lên Ngài.

Mệnh đề “đem của lễ dâng lên Thiên Chúa của mình” gợi lên sự xúc động mạnh, khi chúng ta thấy Đấng Tự Hữu Hằng Hữu tự xưng Ngài là Thiên Chúa của những ai thuộc về Ngài. Những người đã được Ngài kêu gọi và chọn làm con dân của Ngài, dù họ không hề xứng đáng.

Mệnh lệnh trong câu 14 là điều luật còn mãi qua mọi thế hệ của dân I-sơ-ra-ên, trong những nơi họ cư trú, với mục đích:

  • Dạy cho họ biết rằng: Con dân Chúa nên dâng lên Ngài phần đầu tiên mọi sự Chúa ban cho mình (thời gian, tiền bạc, năng lực) trong đức tin, rồi Ngài sẽ ban phước và thánh hóa phần còn lại.

  • Hướng cho họ đến Đấng Christ. Đấng Christ là “Trái Đầu Mùa” của sự sống lại. Con dân Chúa chỉ có thể thực sự được nuôi dưỡng và sống bởi “mùa gặt mới” của sự sống phục sinh sau khi Đấng Christ là Trái Đầu Mùa đã được dâng lên cho Đức Chúa Trời. Sự sống và sự vui hưởng của con dân Chúa trong Đấng Christ đều bắt đầu từ sự phục sinh của Ngài.

Có một thắc mắc là nếu Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa làm hình bóng cho sự sống lại của Đấng Christ thì sao nó không được định vào ngày thứ ba, sau ngày Lễ Vượt Qua, tức là ngày 17 Tháng Nisan. Chúng ta có thể hiểu rằng, Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa được ban hành cho dân I-sơ-ra-ên từ trước khi họ có thể thực hiện nó. Vì trong suốt 40 năm đi trong đồng vắng, họ không làm ruộng mà được Đấng Tự Hữu Hằng Hữu nuôi sống bằng ma-na và chim cút. Vì thế, sự ban hành Lễ Dâng Bó Lúa Đầu Mùa trước khi nó có thể được thực hiện có ý nghĩa tiêu biểu cho sự tiên tri về sự phục sinh của Đấng Christ, cho nên nó được cử hành trước khi Đấng Christ phục sinh một ngày.

Riêng đối với Hội Thánh, ngoài các bài học trên, chúng ta cần tự hỏi mình ba câu hỏi sau đây:

1. Trong sự thờ phượng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu chúng ta có dâng lên Ngài “trái đầu mùa” của thì giờ, sự chú tâm, và lòng tôn kính của mình khi nhóm lại, hay chúng ta vội vã “thưởng thức” những thứ khác trước?

2. Trong nếp sống thuộc thể hằng ngày chúng ta có tìm kiếm Chúa và vương quốc của Ngài trước hết (Ma-thi-ơ 6:33), dâng lên Ngài những điều tốt nhất ban đầu của ngày mới, tuần mới, dự án mới, hay chúng ta lao vào hưởng thụ thành quả mà quên đi Đấng Ban Cho?

3. Trong nếp sống thuộc linh hằng ngày chúng ta có kiên nhẫn chờ đợi sự dạy dỗ từ Đức Thánh Linh, Đấng duy nhất có thể ban cho chúng ta “bánh từ trời” thật sự, hay chúng ta vội vã nhai nuốt các giáo lý và ý tưởng của loài người?

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
08/11/2025

Ghi Chú

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

[1] https://truthnet.org/pdf/Feasts-of-Israel/Class-6-Firstfruits.pdf

[2] https://lucthuy.com/blog.cach-lam-com-dep.2024.11.5714.a5d5d5e6.html

Karaoke Thánh Ca: “Con Được Yên Nghỉ Thỏa Vui Tình Cha”:

https://karaokethanhca.net/con-duoc-yen-nghi-thoa-vui-tinh-cha/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.