Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL114 Đức Chúa Jesus Chữa Lành Các Người Mù

1,032 views

YouTube: https://youtu.be/aGpf7HVzxh4

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL114 Đức Chúa Jesus Chữa Lành Các Người Mù
Ma-thi-ơ 20:29-34; Mác 10:46-52; Lu-ca 18:35-43

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 20:29-34

29 Họ đã rời khỏi Thành Giê-ri-cô. Một đoàn dân đông đã theo Ngài.

30 Này, có hai người mù đang ngồi bên đường. Họ đã nghe rằng, Đức Chúa Jesus đi ngang qua thì họ đã kêu lên rằng: “Lạy Chúa, con cháu của Đa-vít, xin thương xót chúng tôi!”

31 Đám đông đã quở trách họ để họ im tiếng. Nhưng họ đã kêu to hơn nữa, rằng: “Lạy Chúa, con cháu của Đa-vít, xin thương xót chúng tôi!”

32 Đức Chúa Jesus đã dừng lại, đã gọi họ, và đã phán: “Các ngươi muốn Ta làm gì cho các ngươi?”

33 Họ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin làm cho mắt của chúng tôi được mở ra.”

34 Đức Chúa Jesus đã động lòng thương xót, đã rờ mắt họ. Tức thì mắt của họ đã thấy, và họ đã theo Ngài.

Mác 10:46-52

46 Họ đã đến trong Thành Giê-ri-cô. Khi Ngài và các môn đồ của Ngài cùng đoàn dân đông đang đi khỏi Giê-ri-cô, một người mù tên Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, đã ngồi bên đường, xin ăn.

47 Người đã nghe rằng, ấy là Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét. Người đã khởi kêu lên rằng: “Hỡi Jesus, con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

48 Nhiều người đã quở trách người rằng, người hãy im tiếng. Nhưng người đã kêu nhiều hơn nữa: “Hỡi con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

49 Đức Chúa Jesus đã đứng lại, đã truyền cho người được gọi đến. Họ đã gọi người mù, nói với người: “Hãy vững lòng, đứng dậy, Ngài gọi ngươi.”

50 Người ném bỏ áo ngoài của mình, đã trỗi dậy, đã đến với Đức Chúa Jesus.

51 Đức Chúa Jesus cất tiếng phán với người: “Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?” Người mù đã thưa với Ngài: “Lạy Thầy, xin làm cho tôi được thấy lại.”

52 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Hãy đi! Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.” Tức thì người đã được thấy lại, và người đã đi theo Đức Chúa Jesus, trên đường.

Lu-ca 18:35-43

35 Đã xảy ra, khi Ngài đến gần Thành Giê-ri-cô, có một người mù kia đã ngồi bên đường, xin ăn.

36 Nghe đoàn dân đi qua, người đã hỏi: ″Ấy là sự gì?

37 Họ đã bảo người rằng: “Jesus, người Na-xa-rét đi qua.”

38 Người đã kêu rằng: “Lạy Jesus, con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

39 Những kẻ đi trước đã quở trách người để người im tiếng. Nhưng người đã kêu nhiều hơn nữa: “Hỡi con cháu Đa-vít, xin thương xót tôi!”

40 Đức Chúa Jesus đã đứng lại, đã truyền cho người được mang đến với Ngài. Khi người đã đến gần, Ngài đã hỏi người.

41 Rằng: “Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?” Người đã thưa: “Lạy Chúa, xin làm cho tôi được thấy lại.”

42 Đức Chúa Jesus đã phán với người: “Hãy thấy lại! Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.”

43 Tức thì, người đã thấy lại. Người đã đi theo Ngài, tôn vinh Đức Chúa Trời. Hết thảy dân chúng đã thấy vậy thì dâng lời tôn vinh Đức Chúa Trời.

Trong bài này, chúng ta cùng nhau học về sự Đức Chúa Jesus chữa lành các người mù, trên hành trình về lại Thành Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Vượt Qua, vào năm 27. Các sự chữa lành này được Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca ghi lại. Nhiều người cho rằng, cả ba lời ghi chép đều ghi lại cùng một sự kiện. Nhưng xét theo văn mạch thì có thể là ba sự kiện khác nhau.

1. Lu-ca ghi rằng, Đức Chúa Jesus đã chữa lành một người mù, khi Ngài sắp đến Thành Giê-ri-cô.

2. Mác ghi rằng, trong khi Đức Chúa Jesus rời khỏi Thành Giê-ri-cô, nghĩa là chưa ra khỏi thành, thì Ngài đã chữa lành cho một người mù tên là Ba-ti-mê.

3. Ma-thi-ơ ghi rằng, Đức Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài, cùng đoàn dân đông theo Ngài, đã rời khỏi Thành Giê-ri-cô, khi Ngài chữa lành cho hai người mù.

Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng, trong thực tế, Đức Chúa Jesus đã chữa lành bốn người mù trong ba trường hợp khác nhau. Tiếp theo đây, chúng ta hãy cùng nhau học về mỗi trường hợp.

Lu-ca 18:35-37

35 Đã xảy ra, khi Ngài đến gần Thành Giê-ri-cô, có một người mù kia đã ngồi bên đường, xin ăn.

36 Nghe đoàn dân đi qua, người đã hỏi: ″Ấy là sự gì?″

37 Họ đã bảo người rằng: “Jesus, người Na-xa-rét đi qua.”

Vào thời điểm sự kiện chữa lành một người mù do Lu-ca ghi chép xảy ra, thì Đức Chúa Jesus cùng các môn đồ của Ngài đã vào trong địa phận xứ Giu-đê và sắp đến cổng phía đông của Thành Giê-ri-cô. Thành Giê-ri-cô nằm về phía đông nam của Thành Giê-ru-sa-lem và hành trình đi bộ từ Giê-ri-cô đến Giê-ru-sa-lem là khoảng 27 km.

Rất có thể người mù đã ngồi bên đường dẫn vào cổng thành phía đông để xin ăn. Có lẽ tiếng bước chân và tiếng chuyện trò của đoàn dân đông đi theo Đức Chúa Jesus đã khiến cho người mù ngạc nhiên. Người ấy đã gọi những người trong đoàn dân để hỏi là sự gì đang xảy ra. Câu trả lời là: “Jesus, người Na-xa-rét đi qua.”

Cách gọi “Jesus, người Na-xa-rét″ được người I-sơ-ra-ên thời ấy dùng để gọi Đức Chúa Jesus. Mặc dù Ngài đã được sinh ra tại Bết-lê-hem nhưng từ nhỏ, Ngài đã được nuôi dưỡng tại Na-xa-rét. Vì thế, Ngài được gọi là “Jesus, người Na-xa-rét″. Cách gọi tên một người kèm với tên địa phương, nơi người ấy lớn lên, là thói quen của các dân Trung Đông. Thói quen ấy vẫn còn trong một số nơi, cho tới ngày nay.

Vào thời ấy, khi nói đến “Jesus, người Na-xa-rét″ thì dân I-sơ-ra-ên biết ngay là nói đến Đức Chúa Jesus. Đấng đã được nhiều người công nhận là Đấng Mê-si-a, trong tiếng Hê-bơ-rơ, và là Đấng Christ, trong tiếng Hy-lạp.

Lu-ca 18:38-39

38 Người đã kêu rằng: “Lạy Jesus, con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

39 Những kẻ đi trước đã quở trách người để người im tiếng. Nhưng người đã kêu nhiều hơn nữa: “Hỡi con cháu Đa-vít, xin thương xót tôi!”

Khi nghe nói “Jesus, người Na-xa-rét đi qua” thì người mù đã lên tiếng, kêu gọi sự thương xót của Ngài. Lời khẳng định: ″Jesus, con cháu của Đa-vít″, nói lên đức tin của người ấy nơi Đức Chúa Jesus, tin rằng, Ngài là Đấng Christ. Vì theo các lời tiên tri trong Cựu Ước, Đấng Christ là con cháu của Đa-vít (II Sa-mu-ên 7:12-16; Thi Thiên 89:3-4; Ê-sai 9:6-7; 11:1; Giê-rê-mi 23:5). Có lẽ người này đã nghe tiếng đồn về Đức Chúa Jesus, đã tin Ngài, và rất khao khát được gặp Ngài.

Lời cầu xin: ″xin thương xót tôi″, hàm ý, xin Đức Chúa Jesus nhìn đến và ban cho sự chữa lành.

Những người trong đoàn dân đông đi trước Chúa đã quở trách người mù. Có lẽ họ cho rằng, một người ăn xin thuộc giai cấp bần cùng nhất trong xã hội không xứng đáng kêu cầu hoặc làm phiền Chúa. Nếu đúng vậy thì cách cư xử đó nói lên sự nhiều người đi theo Chúa nghĩ rằng, họ có giá trị hơn những người khác. Nói lên sự họ không hiểu biết tình yêu và sứ mệnh của Đấng Christ. Họ đi theo Ngài mà không biết, Ngài yêu tất cả mọi người và chịu chết để chuộc tội cho mọi người.

Ngày nay, nhiều người đi theo Chúa cũng có cùng cách suy nghĩ và thiếu hiểu biết như vậy.

Dù bị quở trách nhưng người mù đã kêu nhiều hơn nữa, mong rằng, Đức Chúa Jesus sẽ nghe được lời cầu xin của mình. Ông vẫn gọi Ngài là con cháu của Đa-vít để khẳng định đức tin của ông, rằng Ngài là Đấng Christ. Và ông cần được sự thương xót của Ngài.

Lu-ca 18:40-41

40 Đức Chúa Jesus đã đứng lại, đã truyền cho người được mang đến với Ngài. Khi người đã đến gần, Ngài đã hỏi người.

41 Rằng: “Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?” Người đã thưa: “Lạy Chúa, xin làm cho tôi được thấy lại.”

Đức Chúa Jesus đã nghe tiếng kêu cầu của người mù và Ngài đã đứng lại. Ngài đã truyền cho người ta mang người mù đến với Ngài. Khi người ấy được mang đến gần Chúa, Ngài đã hỏi người ấy muốn Ngài làm gì cho người ấy. Câu trả lời là: “Lạy Chúa, xin làm cho tôi được thấy lại.”

Người mù gọi Đức Chúa Jesus là ″Chúa″ để tôn Ngài làm chủ, có quyền trên người ấy. Lời cầu xin: ″xin làm cho tôi được thấy lại″, thể hiện đức tin của người ấy nơi năng lực của Đức Chúa Jesus. Nhu cầu thuộc thể lớn nhất của người mù chính là được nhìn thấy lại.

Về thuộc linh, người mù đã nhìn biết Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ đã được hứa trong Thánh Kinh. Về thuộc thể, người mù mong muốn mắt của mình có thể được nhìn thấy lại. Lời kêu xin Đức Chúa Jesus ban cho nhu cầu thuộc thể được dựa trên đức tin của người ấy nơi Ngài. Người ấy vừa tin Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ, vừa tin Ngài có năng lực để chữa lành mình, vừa tin Ngài có lòng thương xót đối với mình.

Lu-ca 18:42-43

42 Đức Chúa Jesus đã phán với người: “Hãy thấy lại! Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.”

43 Tức thì, người đã thấy lại. Người đã đi theo Ngài, tôn vinh Đức Chúa Trời. Hết thảy dân chúng đã thấy vậy thì dâng lời tôn vinh Đức Chúa Trời.

Với mệnh lệnh: ″Hãy thấy lại″, Đức Chúa Jesus đã chữa lành người mù. Đương nhiên Đức Chúa Jesus có năng lực chữa lành cho người ấy. Nhưng Ngài cũng phán dạy rằng, đức tin của người ấy đã khiến cho người ấy được chữa lành. Điều đó hàm ý, Thiên Chúa là toàn năng và đầy lòng thương xót, sẵn sàng ban ơn, xuống phước cho loài người, nhưng nếu loài người không có đức tin nơi Thiên Chúa thì sẽ không nhận được sự ban cho của Thiên Chúa.

Trong thực tế, không phải lúc nào đức tin cũng khiến cho một người được chữa lành tật bệnh. Vì có những lúc Chúa không chữa lành nhưng ban thêm ân điển để một người tiếp tục chịu khổ vì tật bệnh. Điển hình là trường hợp của Sứ Đồ Phao-lô. Ông có thể bởi năng lực của Thiên Chúa chữa bệnh, đuổi quỷ cho nhiều người, thậm chí, khiến người chết sống lại. Nhưng ông đã không thể chữa lành bệnh cho Trô-phim (II Ti-mô-thê 4:20) và Ép-ba-phô-đích (Phi-líp 2:25-27). Ngay chính bản thân ông cũng trong khi đau ốm mà giảng Tin Lành cho người Ga-la-ti (Ga-la-ti 4:13-15). Trong II Cô-rinh-tô 12:7-9, Phao-lô nói về sự ông bị ″một cái dằm xóc vào thịt″, và đã ba lần ông cầu xin Chúa cất nó khỏi ông. Tuy nhiên, Chúa chỉ ban thêm ân điển cho ông để ông chịu đựng.

Người mù đã lập tức thấy lại và đi theo Đức Chúa Jesus, cất tiếng tôn vinh Đức Chúa Trời. Dân chúng chứng kiến phép lạ cũng dâng lời tôn vinh Đức Chúa Trời. Người mù tôn vinh Đức Chúa Trời vì Ngài đã ban Đấng Christ cho loài người và Đấng Christ đã chữa lành ông. Dân chúng tôn vinh Đức Chúa Trời vì họ nhận rằng, Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ đã được hứa trong Thánh Kinh. Ngài đã làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 35:5, khiến cho mắt của người mù mở ra, ngay trước mắt họ.

Mác 10:46-47

46 Họ đã đến trong Thành Giê-ri-cô. Khi Ngài và các môn đồ của Ngài cùng đoàn dân đông đang đi khỏi Giê-ri-cô, một người mù tên Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, đã ngồi bên đường, xin ăn.

47 Người đã nghe rằng, ấy là Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét. Người đã khởi kêu lên rằng: “Hỡi Jesus, con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

Vào thời điểm sự kiện chữa lành một người mù tên Ba-ti-mê do Mác ghi chép xảy ra, thì Đức Chúa Jesus cùng các môn đồ của Ngài đã vào trong Thành Giê-ri-cô, và đang trên đường đi ra khỏi đó. Đoàn dân đông vẫn theo Ngài.

Theo Lu-ca 19:1-28 thì Đức Chúa Jesus đã gặp một người thu thuế tên Xa-chê trong Thành Giê-ri-cô và đã lưu lại nhà ông. Chúng ta không biết Đức Chúa Jesus đã lưu lại trong thành bao lâu. Có thể là vài ngày. Rất có thể vào khoảng thời gian ấy, Ma-thê và Ma-ri đã sai người đến báo tin cho Ngài, về sự La-xa-rơ, anh của họ, bị bệnh.

Khi Đức Chúa Jesus và các môn đồ đi trên đường phố của Thành Giê-ri-cô để ra khỏi thành thì có một người mù đang ngồi bên đường, xin ăn. Đó là một người mà dân trong thành quen biết, biết rõ người ấy là con trai của Ti-mê. Tên gọi ″Ba-ti-mê″ có nghĩa là ″con trai của Ti-mê″ trong tiếng Hê-bơ-rơ, có thể không phải là tên thật của ông. Mà chỉ là cách dân chúng quen gọi ông.

Có lẽ đoàn dân đông vừa đi vừa nói đến ″Đức Chúa Jesus, người Na-xa-rét″, nhắc lại các lời giảng dạy và các việc làm của Ngài nên Ba-ti-mê nghe biết là Đức Chúa Jesus đang đi ngang trên đường.

Có lẽ đây không phải là lần đầu Ba-ti-mê được nghe biết về Đức Chúa Jesus. Dù chỉ nghe người khác kể lại chứ chưa bao giờ được gặp Chúa, nhưng Ba-ti-mê tin rằng, Ngài chính là Đấng Christ. Vì thế, Ba-ti-mê đã gọi Ngài là ″Jesus, con cháu của Đa-vít″. Đó là lời khẳng định, Ngài là Đấng Christ, dựa trên các lời tiên tri trong Cựu Ước. Ông cũng kêu cầu sự thương xót của Ngài, hàm ý, xin Ngài nhìn đến ông và ban sự chữa lành cho ông.

Mác 10:48-49

48 Nhiều người đã quở trách người rằng, người hãy im tiếng. Nhưng người đã kêu nhiều hơn nữa: “Hỡi con cháu của Đa-vít, xin thương xót tôi!”

49 Đức Chúa Jesus đã đứng lại, đã truyền cho người được gọi đến. Họ đã gọi người mù, nói với người: “Hãy vững lòng, đứng dậy, Ngài gọi ngươi.”

Tương tự như trường hợp của người mù ngoài thành trước đó, nhiều người trong đoàn dân đông theo Chúa đã quở trách Ba-ti-mê, muốn ông im tiếng. Nhưng ông đã kêu nhiều hơn nữa. Tiếng kêu của ông vừa thể hiện đức tin của ông nơi Đức Chúa Jesus rằng, Ngài là Đấng Christ, vừa cầu xin được Ngài thương xót.

Đức Chúa Jesus đã nghe tiếng kêu của ông. Ngài đã đứng lại và truyền cho người ta gọi ông đến. Có người đã đến, nói với ông: “Hãy vững lòng, đứng dậy, Ngài gọi ngươi.”

Có lẽ người đến gọi Ba-ti-mê tin rằng, Đức Chúa Jesus sẽ chữa lành cho ông, nên đã bảo ông: ″Hãy vững lòng″.

Trong cuộc đời của chúng ta, những người được Chúa gọi, chúng ta có luôn vững lòng không? Chúng ta có vững lòng khi đối diện với mỗi nhu cầu và mỗi nghịch cảnh? Chúng ta có ở trong tư thế ″đứng dậy″ để sẵn sàng đón nhận ân điển của Thiên Chúa?

Mác 10:50-51

50 Người ném bỏ áo ngoài của mình, đã trỗi dậy, đã đến với Đức Chúa Jesus.

51 Đức Chúa Jesus cất tiếng phán với người: “Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?” Người mù đã thưa với Ngài: “Lạy Thầy, xin làm cho tôi được thấy lại.”

Lý do Ba-ti-mê ném bỏ áo ngoài của mình có lẽ để có thể nhanh chóng đến với Đức Chúa Jesus. Có thể ông không đang mặc nó mà dùng nó trùm lên đầu để che nắng. Vì thế, ông không muốn phải vướng bận vì cầm theo nó. Rất có thể ông cầm trong tay cây gậy dò đường và người đến gọi ông đã nắm lấy đầu gậy để dẫn ông đến với Chúa.

Khi Ba-ti-mê đã đến với Đức Chúa Jesus thì Ngài đã hỏi ông cùng một câu mà Ngài đã hỏi người mù bên ngoài thành trước đó. Ba-ti-mê đã gọi Ngài là ″Thầy″, có lẽ vì lòng ông tin nhận những gì Ngài giảng dạy mà ông nghe những người khác thuật lại. Lời cầu xin của ông cũng giống như lời cầu xin của người mù bên ngoài thành: ″xin làm cho tôi được thấy lại.”

Mác 10:52

52 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Hãy đi! Đức tin của ngươi đã chữa lành ngươi.” Tức thì người đã được thấy lại, và người đã đi theo Đức Chúa Jesus, trên đường.

Đức Chúa Jesus đã không phán với Ba-ti-mê: ″Hãy thấy lại″, như Ngài đã phán với người mù bên ngoài thành. Nhưng Ngài phán: ″Hãy đi″, và Ngài cũng phán dạy rằng, đức tin của ông đã chữa lành ông. Một lần nữa, Đức Chúa Jesus nhấn mạnh đến phương diện một người phải có đức tin để có thể nhận được ân điển của Thiên Chúa.

Ba-ti-mê đã lập tức thấy lại và ông đã đi theo Chúa. Sự đi theo này hàm ý, Ba-ti-mê đã theo Chúa đi đến Giê-ru-sa-lem.

Ma-thi-ơ 20:29-31

29 Họ đã rời khỏi Thành Giê-ri-cô. Một đoàn dân đông đã theo Ngài.

30 Này, có hai người mù đang ngồi bên đường. Họ đã nghe rằng, Đức Chúa Jesus đi ngang qua thì họ đã kêu lên rằng: “Lạy Chúa, con cháu của Đa-vít, xin thương xót chúng tôi!”

31 Đám đông đã quở trách họ để họ im tiếng. Nhưng họ đã kêu to hơn nữa, rằng: “Lạy Chúa, con cháu của Đa-vít, xin thương xót chúng tôi!”

Vào thời điểm sự kiện chữa lành hai người mù do Ma-thi-ơ ghi chép xảy ra, thì Đức Chúa Jesus cùng các môn đồ của Ngài đã rời khỏi Thành Giê-ri-cô. Đoàn dân đông vẫn theo Ngài.

Có lẽ khi Đức Chúa Jesus vừa ra khỏi cổng thành phía tây để tiếp tục hành trình về Giê-ru-sa-lem, thì hai người mù ngồi xin ăn bên đường, gần cổng thành, đã nghe biết Ngài đang đi đến gần họ.

Họ cũng từng nghe biết về Đức Chúa Jesus, nghe những người khác thuật lại những sự giảng dạy của Ngài và những phép lạ Ngài đã làm. Lòng họ tin rằng, Đức Chúa Jesus chính là Đấng Christ đã được hứa trong Thánh Kinh. Vì thế, họ đã gọi Ngài là ″Chúa″, Đấng làm chủ và có quyền trên cuộc đời của họ; gọi Ngài là ″con cháu của Đa-vít″ để khẳng định đức tin của họ nơi Ngài. Và họ cũng kêu cầu Ngài thương xót họ, hàm ý, nhìn đến họ và chữa lành họ.

Một lần nữa, lại có những người trong đoàn dân đông theo Chúa quở trách hai người mù, muốn họ im tiếng. Có lẽ đó không phải là những người từng quở trách hai người mù trước đó. Vì những người ấy đã biết rõ, Đức Chúa Jesus sẵn lòng lắng nghe và chữa lành cho người kêu cầu Ngài. Đoàn dân đi theo Chúa rất đông, có thể lên đến hàng ngàn người. Trong số đông người đó không thiếu những người đi theo Chúa, tin Chúa, nhưng xem thường người có địa vị, hoàn cảnh thấp kém hơn mình. Họ cũng không hiểu tấm lòng và sứ mệnh của Đức Chúa Jesus.

Hai người mù chẳng những không im tiếng, khi bị quở trách, mà còn cất tiếng kêu to hơn. Họ lặp lại lời đã kêu xin trước đó. Họ chỉ hướng về Chúa. Họ không quan tâm đến lời quở trách của đám đông.

Ma-thi-ơ 20:32-34

32 Đức Chúa Jesus đã dừng lại, đã gọi họ, và đã phán: “Các ngươi muốn Ta làm gì cho các ngươi?”

33 Họ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin làm cho mắt của chúng tôi được mở ra.”

34 Đức Chúa Jesus đã động lòng thương xót, đã rờ mắt họ. Tức thì mắt của họ đã thấy, và họ đã theo Ngài.

Khi nghe tiếng kêu của hai người mù, Đức Chúa Jesus đã dừng bước, đứng lại. Ngài đã gọi họ đến với Ngài và hỏi họ cùng câu hỏi như Ngài đã hỏi hai người mù trước đó. Câu trả lời của họ có hơi khác một chút, so với câu trả lời của hai người kia. Họ cầu xin Đức Chúa Jesus làm cho mắt của họ được mở ra.

Rất có thể hai người mù trước đó từng có lúc không bị mù nên họ cầu xin ″được thấy lại″. Còn hai người mù này thì bị mù bẩm sinh nên họ cầu xin cho mắt của họ ″được mở ra″. Và có lẽ cũng chính vì họ bị mù bẩm sinh, chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ sự gì nên Đức Chúa Jesus đã động lòng thương xót.

Khác với hai trường hợp trước, chỉ dùng lời phán, lần này, Đức Chúa Jesus đã đưa tay ra, rờ vào mắt của hai người mù. Ngay lập tức, mắt của họ đã thấy. Họ đã đi theo Ngài.

Chúng ta có thể hiểu rằng, cả bốn người mù được Đức Chúa Jesus chữa lành đều đã đi theo Ngài, về Giê-ru-sa-lem. Vì họ muốn đi theo Chúa và cũng vì những người nam trong dân I-sơ-ra-ên có bổn phận phải về Giê-ru-sa-lem để dự Lễ Vượt Qua. Rất có thể họ đã được chứng kiến cảnh Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Chúng ta khó mà biết được cảm xúc của họ, nếu họ thật sự nhìn thấy Chúa bị đóng đinh.

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
12/07/2025

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Con Xin Theo Ngài″:

https://karaokethanhca.net/con-xin-theo-ngai/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời