Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL118 Tòa Công Luận Muốn Giết Đức Chúa Jesus

765 views

YouTube: https://youtu.be/d1OnCbqpQQs

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL118 Tòa Công Luận Muốn Giết Đức Chúa Jesus
Giăng 11:45-57

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Giăng 11:45-57

45 Sau đó, nhiều người Do-thái đã đến với Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jesus đã làm thì họ đã tin Ngài.

46 Nhưng vài người trong họ đã đi đến những người Pha-ri-si, nói cho họ các điều Đức Chúa Jesus đã làm.

47 Vậy, các thầy tế lễ thượng phẩm và những người Pha-ri-si đã nhóm hiệp Tòa Công Luận. Họ đã hỏi: “Chúng ta làm gì? Vì người này làm nhiều phép lạ.

48 Nếu chúng ta để cho người làm như vậy thì mọi người sẽ tin nơi người, rồi dân La-mã sẽ đến, lấy đi chỗ này và cả nước của chúng ta.”

49 Nhưng một người kia trong họ, tên là Cai-phe, là thầy tế lễ thượng phẩm đương niên, đã nói với họ: “Các ngươi chẳng biết gì hết!

50 Các ngươi chẳng xét rằng, có ích cho chúng ta để một người chết vì dân mà cả nước không bị hủy diệt.”

51 Người đã nói điều đó chẳng phải từ chính mình, nhưng là thầy tế lễ thượng phẩm đương niên, người đã tiên tri về Đức Chúa Jesus sẽ vì nước mà chết.

52 Và không chỉ vì nước mà cũng để nhóm hiệp con cái của Đức Chúa Trời đã tản lạc làm một.

53 Vậy, từ ngày đó, họ đã cùng nhau lập mưu để giết Ngài.

54 Bởi đó, Đức Chúa Jesus đã không đi công khai trong vòng dân Do-thái, nhưng từ đó Ngài đã đi vào miền gần đồng vắng, vào thành gọi là Ép-ra-im, Ngài đã ở lại đó với các môn đồ của Ngài.

55 Lễ Vượt Qua của dân Do-thái đã gần. Nhiều người từ trong xứ đã đi lên Thành Giê-ru-sa-lem, trước Lễ Vượt Qua, để tẩy uế chính họ.

56 Vậy, họ đã tìm Đức Chúa Jesus. Họ đã đứng trong Đền Thờ, nói với nhau rằng: “Các ngươi nghĩ gì? Có phải là Ngài sẽ không đến dự lễ hội?”

57 Các thầy tế lễ thượng phẩm và những người Pha-ri-si đã ra các mệnh lệnh rằng, nếu ai biết Ngài đã ở đâu thì báo cáo, để họ bắt Ngài.

Sự kiện Tòa Công Luận của Do-thái Giáo tại Giê-ru-sa-lem nhóm họp, quyết định giết Đức Chúa Jesus đã xảy ra khoảng hơn một tuần, trước Lễ Vượt Qua của năm 27.

Thời gian biểu dưới đây phỏng đoán thời điểm các sự kiện đã xảy ra trong vòng dưới hai tuần, trước ngày Đức Chúa Jesus bị bắt và bị đóng đinh trên thập tự giá.

  • Khoảng 10 – 12 ngày trước Lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jesus đã gọi La-xa-rơ sống lại.

  • Khoảng 8 – 10 ngày trước Lễ Vượt Qua, Tòa Công Luận đã nhóm hiệp, quyết định giết Đức Chúa Jesus.

  • Khoảng 8 – 10 ngày trước Lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jesus đã rời khỏi Bê-tha-ni, đi vào nơi gần đồng vắng, và đến Thành Ép-ra-im.

  • Ngày 9 tháng Nisan của năm 27, Đức Chúa Jesus đã trở lại làng Bê-tha-ni.

  • Sa-bát cuối tuần, nhằm ngày 10 tháng Nisan, Đức Chúa Jesus đã cưỡi lừa vào Thành Giê-ru-sa-lem.

Đức Chúa Jesus đã từ Ga-li-lê về lại Giu-đê và đến Bê-tha-ni nhiều ngày trước Lễ Vượt Qua. Dù Bê-tha-ni chỉ cách Giê-ru-sa-lem khoảng 2,7 km, nhưng Ngài đã không vào Thành Giê-ru-sa-lem sớm hơn ngày 10 tháng Nisan. Đó cũng là ngày mà chiên con của Lễ Vượt Qua phải được khám nghiệm về tính tinh sạch. Sự vào thành của Đức Chúa Jesus vào hôm đó đã thể hiện Ngài là ″Chiên Con của Lễ Vượt Qua″ (I Cô-rinh-tô 5:7).

Sự kiện Tòa Công Luận nhóm hiệp, đưa ra quyết định giết Đức Chúa Jesus, được ghi lại trong Giăng 11:47-53, là lần đầu tiên họ quyết định như vậy. Sau khi Đức Chúa Jesus cưỡi lừa vào Thành Giê-ru-sa-lem cách vinh quang thì Tòa Công Luận lại nhóm hiệp lần nữa để đưa ra kế hoạch cụ thể, như đã được ghi lại trong Ma-thi-ơ 26:3-5, Mác 14:1-2, Lu-ca 22:1-2.

Giăng 11:45-46

45 Sau đó, nhiều người Do-thái đã đến với Ma-ri và thấy sự Đức Chúa Jesus đã làm thì họ đã tin Ngài.

46 Nhưng vài người trong họ đã đi đến những người Pha-ri-si, nói cho họ các điều Đức Chúa Jesus đã làm.

Sau đó″ là sau khi La-xa-rơ đã sống lại. Những người thân và những người quen của gia đình La-xa-rơ đến dự lễ an táng của La-xa-rơ đã ở lại với Ma-thê và Ma-ri. Có lẽ họ đã lưu lại trong khoảng thời gian bảy ngày than khóc người chết, theo phong tục của dân I-sơ-ra-ên. Họ đã theo Ma-ri, ra mộ của La-xa-rơ và đã chứng kiến sự Đức Chúa Jesus gọi La-xa-rơ sống lại. Trước phép lạ lớn lao ấy, họ đã tin Ngài, hàm ý, họ đã tin rằng, Ngài là Đấng Christ đã được hứa trong Thánh Kinh.

Trong số những người ấy, có vài người đã về Giê-ru-sa-lem, báo tin cho những người Pha-ri-si về những lời phán và việc làm của Đức Chúa Jesus. Có lẽ họ đã báo rằng, Đức Chúa Jesus xưng Ngài là sự sống và sự sống lại, và Ngài đã gọi La-xa-rơ sống lại, sau khi ông đã chết và được chôn trong mộ bốn ngày.

Chúng ta có thể hiểu rằng, họ báo tin cho những người Pha-ri-si không phải vì ác ý, mà là để chia sẻ đức tin của họ về sự Đấng Christ được hứa trong Thánh Kinh chính là Đức Chúa Jesus.

Chúng ta cũng có thể hiểu rằng, họ không chỉ báo tin cho những người Pha-ri-si mà còn báo tin cho mọi người trong Thành Giê-ru-sa-lem. Từ họ, tiếng đồn đã lan rộng trong cư dân và cả những người từ các nơi về Giê-ru-sa-lem, chuẩn bị dự Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men. Chính vì thế mà vài ngày sau, khi Đức Chúa Jesus cưỡi lừa vào thành, dân chúng đã nhiệt tình tung hô Ngài.

Giăng 11:47-48

47 Vậy, các thầy tế lễ thượng phẩm và những người Pha-ri-si đã nhóm hiệp Tòa Công Luận. Họ đã hỏi: “Chúng ta làm gì? Vì người này làm nhiều phép lạ.

48 Nếu chúng ta để cho người làm như vậy thì mọi người sẽ tin nơi người, rồi dân La-mã sẽ đến, lấy đi chỗ này và cả nước của chúng ta.”

Hai câu Thánh Kinh này cho thấy rõ, Tòa Công Luận thời bấy giờ đã không quan tâm đến việc tìm hiểu xem Đức Chúa Jesus có đúng là Đấng Christ hay không. Họ chỉ quan tâm đến việc Ngài được dân chúng tin nhận thì sẽ xảy ra xáo trộn chính trị, khiến cho chính quyền La-mã ra tay, đàn áp dân I-sơ-ra-ên.

Sự kiện Đức Chúa Jesus làm nhiều phép lạ mà Tòa Công Luận thay vì tìm hiểu để công nhận Ngài là Đấng Christ lại quyết định giết Ngài, giúp cho chúng ta thấy rõ, họ không thật sự tin và thờ phượng Thiên Chúa. Họ dùng sự tín ngưỡng nơi Thiên Chúa và Thánh Kinh Cựu Ước như là phương tiện để phục vụ cho quyền lợi của họ. Họ dùng đó để nắm quyền trên dân I-sơ-ra-ên, nhận sự tôn kính của dân chúng, và trục lợi từ các khoản thuế Đền Thờ, từ các đóng góp tôn giáo của nhiều người.

Lấy đi chỗ này″ có nghĩa là lấy đi Đền Thờ, nơi họ đang nhóm họp và bao gồm cả Thành Giê-ru-sa-lem.

Danh từ ″nước″ hàm ý, tập thể dân tộc I-sơ-ra-ên đang sinh sống tại Ca-na-an, vào lúc bấy giờ.

Câu ″dân La-mã sẽ đến, lấy đi chỗ này và cả nước của chúng ta″ có nghĩa là chính quyền La-mã sẽ tiêu diệt cả địa lý và nhân văn của dân I-sơ-ra-ên.

Tòa Công Luận″ là danh từ được dịch từ tiếng Hy Lạp “συνέδριον″ (synedrion – G4892) /soon-ed’-ree-on – xun-né-ri-on/, một danh từ có nghĩa đen là ″sự ngồi cùng nhau″, có nghĩa bóng là ″hội đồng″. ″Tòa Công Luận″ trong tiếng Hán Việt có nghĩa như sau: ″tòa″ = cơ quan xét xử, tòa án; ″công″ = công cộng, chung; ″luận″ = bàn luận, xét xử, định tội.

Đó là cơ quan tư pháp và lập pháp cao nhất của dân I-sơ-ra-ên, trong thời kỳ Đền Thờ Thứ Nhì (khoảng từ thế kỷ 6 TCN đến năm 70 SCN). Đây là một hội đồng quan trọng tại Giê-ru-sa-lem, đóng vai trò trung tâm trong việc quản lý các vấn đề tôn giáo, pháp lý, và chính trị của cộng đồng I-sơ-ra-ên, dưới sự thống trị của Đế Quốc La-mã.

Tòa Công Luận được cho là bắt nguồn từ thời kỳ sau sự lưu đày Ba-bi-lôn (khoảng năm 538 TCN), khi dân I-sơ-ra-ên được Vua Si-ru cho trở về Giê-ru-sa-lem và tái thiết Đền Thờ. Nó được xem là dựa theo kiểu mẫu hội đồng trưởng lão trong Cựu Ước, như được chép trong Dân Số Ký 11:16-17. Vào thời kỳ Hy Lạp hóa (thế kỷ 3 – 2 TCN), nó phát triển thành một cơ quan chính thức hơn. Dưới thời La-mã (từ năm 63 TCN), Tòa Công Luận hoạt động như một tòa án cao nhất của dân I-sơ-ra-ên nhưng bị hạn chế quyền lực bởi chính quyền La-mã.

Chức năng của Tòa Công Luận về tư pháp là giải quyết các vụ việc về luật Môi-se, giáo lý, trật tự xã hội, và tuyên án tử hình tội phạm. Nhưng án tử hình phải được chuyển đến chính quyền La-mã để được phê duyệt. Về lập pháp thì Tòa Công Luận ban hành các luật tôn giáo, giải thích Thánh Kinh, và quản lý Lịch Do-thái, xác định các kỳ lễ hội. Về chính trị, trong thời kỳ độc lập, Tòa Công Luận bổ nhiệm vua, thầy tế lễ thượng phẩm, quản lý Đền Thờ, và tuyên chiến. Nhưng dưới sự cai trị của La-mã, họ chỉ còn tập trung vào sinh hoạt nội bộ của dân I-sơ-ra-ên. Thậm chí, chính quyền La-mã còn can thiệp vào việc phong chức thầy tế lễ thượng phẩm.

Thành phần của Tòa Công Luận bao gồm 71 thành viên được đứng đầu bởi thầy tế lễ thượng phẩm. Thầy tế lễ thượng phẩm làm chủ tọa hội đồng. Các thành viên phải là nam giới Do-thái chính thống, có học vấn cao. Các thành viên gồm ba nhóm: các thầy tế lễ (thường thuộc phe Sa-đu-sê), các thầy thông giáo phụ trách việc giải thích và bảo vệ Luật Môi-se (thường thuộc phe Pha-ri-si), cùng các trưởng lão là những người có uy tín trong dân chúng. Các trưởng lão có thể là những người đứng đầu các chi phái nhưng thường là những người giàu có với sức ảnh hưởng chính trị lớn. Các trưởng lão thường về phe với các thầy tế lễ.

Tòa Công Luận tại Giê-ru-sa-lem nhóm hiệp trong “Phòng Đá Đẽo” (Hall of Hewn Stone) bên trong khuôn viên Đền Thờ. Có hai loại Tòa Công Luận: “Tòa Đại Công Luận″ với 71 thành viên tại Giê-ru-sa-lem, và các “Tòa Tiểu Công Luận″ với 23 thành viên ở các địa phương khác. Tòa Đại Công Luận chỉ có một, giải quyết các vấn đề quốc gia và các kháng cáo từ các tòa dưới. Tòa Tiểu Công Luận có hai tòa tại Giê-ru-sa-lem, giải quyết các vụ việc nhỏ hơn; và một tòa ở mỗi thành phố khác, đóng vai trò như các tòa án địa phương [1].

Giăng 11:49-50

49 Nhưng một người kia trong họ, tên là Cai-phe, là thầy tế lễ thượng phẩm đương niên, đã nói với họ: “Các ngươi chẳng biết gì hết!

50 Các ngươi chẳng xét rằng, có ích cho chúng ta để một người chết vì dân mà cả nước không bị hủy diệt.”

Thầy tế lễ thượng phẩm đương niên″ có nghĩa là thầy tế lễ thượng phẩm đang ở trong chức vụ vào năm ấy. Cách nói này được dùng để phân biệt với các thầy tế lễ thượng phẩm đã bị truất phế, như An-ne là cha vợ của Cai-phe. Sự phong chức và truất phế thầy tế lễ thượng phẩm dưới thời La-mã cai trị dân I-sơ-ra-ên là do chính quyền La-mã.

Lẽ ra, chức thầy tế lễ thượng phẩm phải là cha truyền con nối, theo dòng của A-rôn (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:9). Nhưng từ năm 172 TCN thì các thầy tế lễ thượng phẩm do các nhà cầm quyền ngoại bang cai trị dân I-sơ-ra-ên tùy ý phong lập. Các nhà cầm quyền ấy phong cho những người chịu làm việc cho họ làm thầy tế lễ thượng phẩm, kể cả phong lập người không thuộc dòng A-rôn. Khi cần thiết thì họ phế truất và phong lập người khác. Đó là lý do trong cùng một thời điểm mà có nhiều người mang danh xưng ″thầy tế lễ thượng phẩm″.

Quan điểm của Cai-phe là thà giết chết một người, dù là người vô tội, để giữ sự an toàn cho nhiều người. Người Cai-phe muốn giết là Đức Chúa Jesus. Những người Cai-phe muốn giữ trong sự an toàn là tập thể dân I-sơ-ra-ên.

Quan điểm của Cai-phe là không hợp với đạo đức, vì người vô tội không thể bị giết để phục vụ lợi ích của số đông. Quan điểm của Cai-phe cũng giống như tín ngưỡng tế thần bằng sinh mạng của một người để cầu bình an cho nhiều người. Quan điểm này hoàn toàn nghịch lại sự công chính của Thiên Chúa, trừ khi một người tự nguyện hy sinh để cứu nhiều người khác hoặc để đem lại ích lợi cho nhiều người khác (Giăng 15:13).

Có ích cho chúng ta″ là sự có ích cho mọi người đang có mặt trong phòng họp của Tòa Công Luận và cho cả dân I-sơ-ra-ên. Cai-phe muốn bảo vệ quyền cai trị của Tòa Công Luận, không muốn quyền ấy bị mất đi khi dân chúng tin theo Đức Chúa Jesus. Cai-phe cũng không muốn vì dân I-sơ-ra-ên tin theo Đức Chúa Jesus mà khiến cho chính quyền La-mã đem quân trấn áp dân I-sơ-ra-ên, vì sợ họ làm loạn.

Một người chết vì dân″ là một Đức Chúa Jesus chết vì hết thảy dân I-sơ-ra-ên. Theo Cai-phe, cái chết của Đức Chúa Jesus sẽ chấm dứt viễn cảnh bất ổn về chính trị, làm nguyên cớ khiến cho chính quyền La-mã bách hại dân I-sơ-ra-ên.

Cả nước không bị hủy diệt″ là tập thể dân I-sơ-ra-ên không bị chính quyền La-mã tiêu diệt, một khi sự họ tin theo Đức Chúa Jesus trở thành nỗi bất ổn chính trị.

Giăng 11:51-52

51 Người đã nói điều đó chẳng phải từ chính mình, nhưng là thầy tế lễ thượng phẩm đương niên, người đã tiên tri về Đức Chúa Jesus sẽ vì nước mà chết.

52 Và không chỉ vì nước mà cũng để nhóm hiệp con cái của Đức Chúa Trời đã tản lạc làm một.

Tuy nhiên, lời nói của Cai-phe chính là lời tiên tri về sự Đức Chúa Jesus chết vì dân tộc I-sơ-ra-ên.

Nhưng cái chết của Đức Chúa Jesus không phải để giữ cho dân I-sơ-ra-ên được bình an, không bị chính quyền La-mã tiêu diệt, theo suy nghĩ của Cai-phe. Mà cái chết của Ngài đem lại sự cứu chuộc cho dân I-sơ-ra-ên, là sự cứu chuộc đã được Đức Chúa Trời hứa trong Thánh Kinh. Đó là sự cứu chuộc ra khỏi quyền lực của tội lỗi và hậu quả của sự phạm tội. Hơn nữa, đó cũng là sự nhóm họp dân I-sơ-ra-ên về làm một. Về thuộc thể, làm một trên Đất Hứa Ca-na-an đã được Đức Chúa Trời hứa ban đời đời cho họ. Về thuộc linh, làm một trong một dân tộc thuộc riêng về Ngài.

Dĩ nhiên, cái chết của Đức Chúa Jesus còn đem lại sự cứu chuộc cho các dân tộc khác, ngoài dân I-sơ-ra-ên. Trên phương diện đó, chữ ″nước″ cần được hiểu là Vương Quốc Trời. Vì sự thành lập Vương Quốc Trời mà Đức Chúa Jesus chịu chết. ″Con cái của Đức Chúa Trời đã tản lạc″ là tất cả những ai tin nhận Đức Chúa Jesus, được ở trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, được ban cho quyền làm những con trai và những con gái của Ngài, ở khắp nơi trong khắp muôn dân. Họ sẽ được hiệp một trong Hội Thánh của Ngài.

Chẳng có người Do-thái hoặc người Hy-lạp, chẳng có người nô lệ hoặc người tự do, chẳng có đàn ông hoặc đàn bà; vì hết thảy các anh chị em là một trong Đấng Christ Jesus.″ (Ga-la-ti 3:28).

Tại đây, không có người Hy-lạp hoặc người Do-thái, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì, người dã man hoặc người Si-the, người nô lệ hoặc người tự do; nhưng Đấng Christ là tất cả và trong tất cả.″ (Cô-lô-se 3:11).

Cai-phe không biết là mình đã nói tiên tri nhưng Đấng Thần Linh đã đặt lời ấy vào miệng của ông. Ngài dùng chính thầy tế lễ thượng phẩm đương thời Đức Chúa Jesus để tiên tri về sự chết chuộc tội cho loài người và sự thiết lập Vương Quốc Trời của Ngài.

Có một quan điểm sai lầm cho rằng, Đức Chúa Trời chỉ dùng những người tin kính Ngài và Đức Thánh Linh chỉ thần cảm những ai là con dân Chúa. Thực tế, Đức Chúa Trời vẫn có thể dùng một người không thật lòng tin kính Ngài để hoàn thành ý muốn của Ngài. Đức Thánh Linh vẫn có thể thần cảm một người không thật lòng tin kính Chúa để họ nói hoặc làm điều gì đó nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời. Khi cần, Thiên Chúa vẫn có thể khiến cho loài vật nói tiếng người, như con lừa cái của Ba-la-am (Dân Số Ký 22:28-30).

Chúng ta cần tôn trọng và tiếp nhận bất cứ lời nói nào đúng với Lời Chúa, cho dù người nói là ai. Chúng ta cần công nhận bất cứ việc làm nào đúng với Lời Chúa, cho dù người làm là ai. Lời Chúa là thẩm quyền tuyệt đối để chúng ta nhận định và đánh giá mọi sự trong đời sống. Lời Chúa được chính Chúa tôn cao hơn cả danh của Ngài (Thi Thiên 138:2).

Giăng 11:53-54

53 Vậy, từ ngày đó, họ đã cùng nhau lập mưu để giết Ngài.

54 Bởi đó, Đức Chúa Jesus đã không đi công khai trong vòng dân Do-thái, nhưng từ đó Ngài đã đi vào miền gần đồng vắng, vào thành gọi là Ép-ra-im, Ngài đã ở lại đó với các môn đồ của Ngài.

Câu 53 cho thấy, Tòa Công Luận đã lên án chết Đức Chúa Jesus, trước khi xét xử Ngài, theo quy định của luật pháp. Họ là một hội đồng tối cao trong dân I-sơ-ra-ên phụ trách lập pháp và tư pháp. Nhưng họ đã vi phạm nguyên tắc xét xử công bằng. Họ vừa làm ra luật vừa có trách nhiệm xét xử theo luật, nhưng lại không tuân theo đúng quy trình pháp lý.

Dĩ nhiên, Đức Chúa Jesus đã không có mặt trong sự nhóm họp của Tòa Công Luận để biết là họ đã quyết định giết Ngài. Nhưng có lẽ Đấng Thần Linh đã thần cảm cho Ngài biết âm mưu của họ. Vì thế, dù đã về đến gần Giê-ru-sa-lem, nhưng Ngài đã không vội vào thành, mà đi vào nơi gần đồng vắng, đến Thành Ép-ra-im.

Thành Ép-ra-im thuộc chi phái Ép-ra-im, ở về phía đông bắc của Giê-ru-sa-lem khoảng chừng 15 km, theo đường chim bay. Theo đường bộ thì khoảng 30 – 40 km. Đây là một thành nhỏ, trong vùng đồi núi xứ Giu-đê, gần đồng vắng và thung lũng Giô-đanh, địa hình đồi núi chớn chở, khiến cho khó tiếp cận.

Từ Bê-tha-ni, Đức Chúa Jesus và các môn đồ đã đi một ngày đường để đến Ép-ra-im. Trước đó, Thánh Kinh không hề nói có lần nào Đức Chúa Jesus đến Ép-ra-im. Thánh Kinh cũng không ghi lại Đức Chúa Jesus đã làm gì trong mấy ngày lưu lại Ép-ra-im. Có lẽ Ngài đã dùng khoảng thời gian đó để nghỉ ngơi, trước khi chịu bị bắt và bị đóng đinh trên thập tự giá để hoàn thành sứ mạng cứu chuộc loài người.

Giăng 11:55-56

55 Lễ Vượt Qua của dân Do-thái đã gần. Nhiều người từ trong xứ đã đi lên Thành Giê-ru-sa-lem, trước Lễ Vượt Qua, để tẩy uế chính họ.

56 Vậy, họ đã tìm Đức Chúa Jesus. Họ đã đứng trong Đền Thờ, nói với nhau rằng: “Các ngươi nghĩ gì? Có phải là Ngài sẽ không đến dự lễ hội?”

Câu ″Lễ Vượt Qua của dân Do-thái đã gần″ có lẽ hàm ý, Lễ Vượt Qua được tổ chức theo Do-thái Giáo, trễ hơn quy định của Thánh Kinh.

Theo Thánh Kinh, sau khi mặt trời lặn của ngày 13 tháng Nisan là đã bước sang ngày 14, ngày Lễ Vượt Qua. Chiên con của Lễ Vượt Qua phải bị giết vào lúc ấy và thịt của nó được nướng lên, rồi được ăn sau đó, trong bữa ăn tối, vào khoảng 8 giờ tối. Phần còn dư phải bị thiêu bằng lửa, trước khi trời sáng (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:8-10).

Nhưng dân I-sơ-ra-ên theo Do-thái Giáo vào thời của Đức Chúa Jesus đã giết chiên con của Lễ Vượt Qua vào buổi chiều, khoảng từ 3 – 5 giờ, trước khi mặt trời lặn của ngày 14. Họ ăn thịt nó trong bữa ăn tối, sau khi mặt trời lặn, là lúc đã bước sang ngày 15.

Nhiều người từ trong xứ″ là những người I-sơ-ra-ên sống trên đất Ca-na-an. Vì theo quy định của Cựu Ước mỗi năm ba lần, những người nam I-sơ-ra-ên sống trên đất Ca-na-an phải về Đền Thờ dự ba kỳ lễ: Lễ Bánh Không Men (bao gồm Lễ Vượt Qua), Lễ Ngũ Tuần, và Lễ Lều Tạm (Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:16). Thực tế, có nhiều người I-sơ-ra-ên từ các nơi khác ngoài Ca-na-an cũng về Giê-ru-sa-lem để tham dự các lễ này.

Dân số Giê-ru-sa-lem vào thời của Đức Chúa Jesus giao động từ 40.000 đến 50.000 người. Vào các kỳ lễ hội, số người đổ về tham dự lễ có thể lên đến 500.000 người. Sử Gia Giô-se-phớt [2] cho rằng, số người về tham dự các lễ hội có thể lên đến khoảng 2 – 3 triệu người. Nhưng đa số các học giả Thánh Kinh ngày nay cho rằng, đó chỉ là sự phóng đại để tuyên truyền. Các ước tính hiện đại dựa trên dung lượng Đền Thờ (có thể chứa 400.000 người) và bằng chứng lịch sử cho thấy, con số thực tế có thể vào khoảng 400.000 – 500.000 người.

Sự tẩy uế trước kỳ Lễ Vượt Qua là sự tẩy uế được nói đến trong Lê-vi Ký 7:20-21 và Dân Số Ký 9:6-13. Cụ thể là sự bị ô uế vì đụng đến xác chết. Quy trình tẩy uế dựa theo sự hướng dẫn trong Dân Số Ký 19:11-22. Đó là dùng nước tro của bò cái con sắc hoe trộn với nước sạch để rảy lên người bị ô uế trong các ngày thứ nhất, thứ ba, và thứ bảy. Ngày thứ bảy người đang được tẩy uế phải tắm và giặt quần áo trong nước để được hoàn toàn tinh sạch.

Những người đến Giê-ru-sa-lem sớm để chuẩn bị cho sự tham dự Lễ Vượt Qua đã đứng trong khuôn viên Đền Thờ và hỏi nhau rằng, có phải Đức Chúa Jesus sẽ không về dự lễ hội. Lý do họ hỏi nhau có lẽ là vì họ đã không nhìn thấy Ngài, mặc dù họ đã được nghe tiếng đồn về phép lạ Ngài đã gọi người chết bốn ngày sống lại. Họ náo nức mong được gặp Ngài. Trong số họ, có lẽ có những người đã từng nhìn thấy Đức Chúa Jesus có mặt sớm tại Đền Thờ, trong các kỳ lễ hội trước đó. Nên lần này, không nhìn thấy Chúa khiến cho họ hoang mang.

Giăng 11:57

57 Các thầy tế lễ thượng phẩm và những người Pha-ri-si đã ra các mệnh lệnh rằng, nếu ai biết Ngài đã ở đâu thì báo cáo, để họ bắt Ngài.

Trong lúc nhiều người xôn xao tìm kiếm Đức Chúa Jesus thì các thầy tế lễ thượng phẩm và những người Pha-ri-si đã ra các mệnh lệnh cho ai biết Ngài ở đâu thì báo cáo cho họ. Dĩ nhiên, họ không nói mục đích là để họ bắt Chúa.

Các thầy tế lễ thượng phẩm″ hàm ý, An-ne, cha vợ của Cai-phe và chính Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm đương nhiệm.

Những người Pha-ri-si″ hàm ý, những người Pha-ri-si là thành viên của Tòa Công Luận.

Đã ra các mệnh lệnh″ hàm ý, mệnh lệnh về sự báo cáo tung tích của Đức Chúa Jesus đã được Tòa Công Luận đưa ra nhiều lần, cho nhiều nhóm người khác nhau, tại nhiều nơi khác nhau. Những nơi khác nhau ấy bao gồm từ trong khuôn viên Đền Thờ đến các tụ điểm đông người trên các đường phố, các cổng thành, và các cổng vào Đền Thờ. Rất có thể các mệnh lệnh ấy bao gồm lời cảnh cáo buộc tội những ai biết mà không báo cáo.

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
16/08/2025

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

[1] https://thewordtoyou.net/dictionary/6-toa-cong-luan

[2] https://thewordtoyou.net/dictionary/410-gio-se-phot

Karaoke Thánh Ca: “Tình Yêu Chúa Tuyệt Vời″:

https://karaokethanhca.net/tinh-yeu-chua-tuyet-voi/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/