Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL127 Tóm Tắt về Điều Răn và Luật Pháp

386 views

YouTube: https://youtu.be/zOq4lTLAqX8

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL127 Tóm Tắt về Điều Răn và Luật Pháp
Ma-thi-ơ 22:34-40; Mác 12:28-34

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 22:34-40

34 Những người Pha-ri-si đã nghe rằng Ngài đã làm cho những người Sa-đu-sê im lặng, thì họ đã nhóm hiệp với nhau.

35 Một trong nhóm họ, là thầy dạy luật, đã hỏi để thử Ngài:

36 “Thưa thầy, điều răn nào là quan trọng nhất trong luật pháp?”

37 Ngài đã bảo người: “Ngươi sẽ yêu Chúa là Thiên Chúa của ngươi trong trọn lòng ngươi, trong trọn linh hồn ngươi, và trong trọn tâm trí ngươi. {Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5}

38 Đây là điều răn quan trọng nhất và trước nhất.

39 Điều răn thứ nhì cũng như nó: Ngươi sẽ yêu người lân cận của ngươi như chính mình. {Lê-vi Ký 19:18b}

40 Trên hai điều răn này, treo hết thảy luật pháp và các sách tiên tri.”

Mác 12:28-34

28 Một trong những thầy thông giáo đã đến gần, nghe họ biện luận với nhau, thấy Ngài đã khéo đáp lời những kẻ ấy nên đã hỏi Ngài rằng: “Điều răn nào là đầu hết?”

29 Đức Chúa Jesus đã đáp lời: “Đứng đầu ấy là: ‘Hãy nghe! Hỡi I-sơ-ra-ên! Chúa, Đức Chúa Trời của chúng ta, là một Chúa.

30 Ngươi sẽ yêu Chúa, Đức Chúa Trời ngươi, bằng tình yêu ra từ trọn lòng ngươi, ra từ trọn linh hồn ngươi, ra từ trọn tâm trí ngươi, và ra từ trọn sức mạnh ngươi.’ {Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4-5}

31 Đây là thứ nhì: ‘Ngươi sẽ yêu người lân cận của ngươi như chính mình.’ Chẳng có điều răn nào lớn hơn các điều này.” {Lê-vi Ký 19:18}

32 Thầy thông giáo đã thưa với Ngài: “Phải! Thưa thầy, Ngài đã nói theo lẽ thật rằng Chúa là một, chẳng có Chúa nào khác ngoài Ngài.

33 Yêu Ngài bằng tình yêu ra từ trọn lòng, ra từ trọn trí khôn, ra từ trọn sức mạnh, và yêu người lân cận như mình là quan trọng hơn mọi của lễ thiêu cùng những sinh tế.”

34 Đức Chúa Jesus thấy rằng người đã trả lời cách khôn sáng, thì đã phán với người: “Ngươi là chẳng cách xa Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” Rồi, không ai dám chất vấn Ngài nữa.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau học về cội rễ của mọi điều răn và tiêu chuẩn phán xét của hết thảy luật pháp, qua sự giảng dạy của chính Đức Chúa Jesus.

Ma-thi-ơ 22:34-36

34 Những người Pha-ri-si đã nghe rằng Ngài đã làm cho những người Sa-đu-sê im lặng, thì họ đã nhóm hiệp với nhau.

35 Một trong nhóm họ, là thầy dạy luật, đã hỏi để thử Ngài:

36 “Thưa thầy, điều răn nào là quan trọng nhất trong luật pháp?”

Mác 12:28

28 Một trong những thầy thông giáo đã đến gần, nghe họ biện luận với nhau, thấy Ngài đã khéo đáp lời những kẻ ấy nên đã hỏi Ngài rằng: “Điều răn nào là đầu hết?”

Câu chuyện chúng ta đang học đã xảy ra tiếp theo sự kiện những người Sa-đu-sê hoàn toàn thất bại, khi họ đặt câu hỏi về sự sống lại để gài bẫy Đức Chúa Jesus. Những người Pha-ri-si biết được điều đó nên họ đã nhóm hiệp nhau để tìm cách đưa ra một câu hỏi khác, gài bẫy Đức Chúa Jesus.

Họ đã chất vấn Đức Chúa Jesus về thẩm quyền của Ngài nhưng Ngài không trả lời cho họ, vì họ đã không dám trả lời cho Ngài về thẩm quyền của Giăng Báp-tít. Họ đã chất vấn Đức Chúa Jesus về sự nộp thuế cho Sê-sa. Câu trả lời của Ngài đã khiến cho họ cứng miệng. Những người Sa-đu-sê đã chất vấn Đức Chúa Jesus về Thần học, tưởng rằng họ sẽ có thể bắt bí Đức Chúa Jesus và qua đó, chứng minh giáo lý không có sự sống lại của họ là hợp lý. Nhưng Đức Chúa Jesus đã dùng chính lời phán của Đức Chúa Trời để khẳng định giáo lý về sự sống lại là lẽ thật. Giờ đây, những người Pha-ri-si đã hội ý với nhau để đưa ra một câu hỏi mới, liên quan điều răn và luật pháp. Có lẽ họ đã tưởng chắc rằng câu trả lời của Đức Chúa Jesus sẽ khiến Ngài rơi vào tình thế bị nhiều nhóm khác nhau phản bác và công kích. Vì vào thời bấy giờ, trong dân I-sơ-ra-ên đã có nhiều quan điểm khác nhau, về mức độ quan trọng của các điều răn.

Theo niềm tin chung của Do-thái Giáo, toàn bộ Ngũ Kinh (năm sách đầu của Cựu Ước, do Môi-se ghi chép) chứa 613 điều răn, bao gồm Mười Điều Răn do chính Đức Chúa Trời khắc trên hai bảng đá.

Mười Điều Răn là nguyên tắc tổng quát. Các điều răn còn lại là sự mở rộng, chi tiết hóa, áp dụng cụ thể của mười điều răn nền tảng đó. Vậy nên Mười Điều Răn vừa là một phần của 613 điều, vừa là nền móng cho các điều còn lại.

Trong 613 điều răn có 248 điều răn tích cực (phải làm) và 365 điều răn tiêu cực (không được làm).

Theo các tài liệu lịch sử và truyền thống Do-thái Giáo, người Pha-ri-si có quan điểm khác nhau về điều răn nào là quan trọng.

Nhiều thầy dạy luật thời Đức Chúa Jesus cho rằng tất cả 613 điều răn đều quan trọng như nhau. Tức là không có điều nào “nhẹ” hơn hay “nặng” hơn, vì tất cả đều đến từ Đức Chúa Trời.

Một số khác thì nhấn mạnh Mười Điều Răn là quan trọng nhất, vì là nền tảng của các điều răn khác.

Một số khác nữa thì cho rằng các điều răn về lễ nghỉ Sa-bát hoặc về sự cắt bì hoặc các điều răn về tinh sạch, tẩy uế là quan trọng.

Cũng có những người xem trọng việc dâng tế lễ và dâng hiến thuế một phần mười.

Ngay cả khi Đức Chúa Jesus trả lời theo quan điểm được nhiều người chấp nhận nhất: “Tất cả các điều răn đều quan trọng như nhau, không có điều nào quan trọng hơn điều nào.” Thì cũng vẫn có những phe phái chống đối Ngài. Họ sẽ nêu lên rằng có những điều răn khi vi phạm không bị xử chết, và có những điều răn khi vi phạm thì bị xử chết. Vậy, đương nhiên mức độ quan trọng của các điều răn không giống nhau.

Chính vì thế mà Đức Thánh Linh đã Thần cảm cho Ma-thi-ơ biết rằng câu hỏi được thầy thông giáo đưa ra là để thử Chúa.

Danh xưng “thầy dạy luật” cùng nghĩa với danh xưng “thầy thông giáo”. Vì công việc của thầy thông giáo là sao chép Thánh Kinh và giải thích Thánh Kinh. Giải thích Thánh Kinh chính là dạy luật, dạy cho dân I-sơ-ra-ên biết ý nghĩa và cách thức vâng theo luật pháp đã được chép trong Thánh Kinh.

Có lẽ Ma-thi-ơ, một sứ đồ của Chúa, có mặt bên cạnh Chúa, được trực tiếp chứng kiến sự việc nên ông đã ghi lại nguyên văn câu hỏi của thầy thông giáo: “Thưa thầy, điều răn nào là quan trọng nhất trong luật pháp?” Còn Mác thì ghi lại theo lời thuật của chứng nhân: “Điều răn nào là đầu hết?” Nhưng ý nghĩa của câu hỏi không khác nhau.

Ma-thi-ơ 22:37-39

37 Ngài đã bảo người: “Ngươi sẽ yêu Chúa là Thiên Chúa của ngươi trong trọn lòng ngươi, trong trọn linh hồn ngươi, và trong trọn tâm trí ngươi. {Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5}

38 Đây là điều răn quan trọng nhất và trước nhất.

39 Điều răn thứ nhì cũng như nó: Ngươi sẽ yêu người lân cận của ngươi như chính mình. {Lê-vi Ký 19:18b}

Mác 12:29-31

29 Đức Chúa Jesus đã đáp lời: “Đứng đầu ấy là: ‘Hãy nghe! Hỡi I-sơ-ra-ên! Chúa, Đức Chúa Trời của chúng ta, là một Chúa.

30 Ngươi sẽ yêu Chúa, Đức Chúa Trời ngươi, bằng tình yêu ra từ trọn lòng ngươi, ra từ trọn linh hồn ngươi, ra từ trọn tâm trí ngươi, và ra từ trọn sức mạnh ngươi.’ {Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4-5}

31 Đây là thứ nhì: ‘Ngươi sẽ yêu người lân cận của ngươi như chính mình.’ Chẳng có điều răn nào lớn hơn các điều này.” {Lê-vi Ký 19:18b}

Theo Ma-thi-ơ, Đức Chúa Jesus đã trích dẫn Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5 và Lê-vi Ký 19:18b để trả lời thầy thông giáo.

Theo Mác, Đức Chúa Jesus đã trích dẫn Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4-5 và Lê-vi Ký 19:18b.

Có lẽ Ma-thi-ơ ghi lại nguyên văn lời phán của Đức Chúa Jesus còn Mác thì ghi lại theo lời chứng nhân, mà người thuật chuyện có thể đã thêm vào sự suy diễn của mình. Dù vậy, sự thêm vào đó không làm sai lạc ý nghĩa lời phán của Đức Chúa Jesus.

Dưới đây là các câu Thánh Kinh đó:

“Hãy nghe! Hỡi I-sơ-ra-ên! Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa chúng ta, là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Hiệp Một. Ngươi sẽ yêu Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa ngươi, trong trọn lòng ngươi, trong trọn linh hồn ngươi, và trong trọn sức mạnh ngươi.” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4-5).

“Ngươi sẽ không trả thù, cũng sẽ không giữ lòng hận thù con cháu của dân sự mình. Nhưng ngươi sẽ yêu người lân cận của ngươi như chính mình. Ta, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.” (Lê-vi Ký 19:18).

Ngoài ra, Ma-thi-ơ dùng giới từ “trong”, đúng với nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5. Còn Mác dùng giới từ “ra từ”, theo Thánh Kinh Bản Dịch Bảy Mươi, là phiên bản dịch từ nguyên ngữ Hê-bơ-rơ sang tiếng Hy-lạp, được dân I-sơ-ra-ên và ngay cả Đức Chúa Jesus dùng vào thời bấy giờ.

Giới từ “trong” của tiếng Hê-bơ-rơ có nhiều nghĩa, bao gồm: trong một nơi chốn hay trong một khoảng thời gian; với ai hay bằng cách nào đó; qua một phương tiện nào đó; giữa một nhóm; ra từ, thuộc về…

Có lẽ các dịch giả của Thánh Kinh Bản Dịch Bảy Mươi khi dịch Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5 đã chọn ý nghĩa “ra từ” để mô tả sự sống động của tình yêu: thuộc về nội tại chuyển ra ngoài thành hành động thực tế.

Chúng ta cũng có thể hiểu rằng Ma-thi-ơ viết cho dân I-sơ-ra-ên. Ông muốn nhấn mạnh Đức Chúa Jesus là Đấng Mê-si-a, Đấng giảng giải và làm trọn Luật Pháp. Việc Ngài dùng giới từ “trong” (ἐν), một từ sát với tiếng Hê-bơ-rơ, có thể nhằm khẳng định tính liên tục và sự làm trọn tuyệt đối của Ngài đối với các điều răn và luật pháp. Trong khi đó, Mác viết cho dân La-mã nên được Đức Thánh Linh Thần cảm để nhấn mạnh hành động và quyền năng của Đức Chúa Jesus. Việc dùng giới từ “ra từ” (ἐξ) theo Thánh Kinh Bản Dịch Bảy Mươi có thể phù hợp với chủ đề này: tình yêu mà Chúa đòi hỏi là một sức mạnh năng động, hiến dâng toàn bộ con người. Đồng thời, việc trích dẫn cả Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4 là để khẳng định nền tảng độc thần, trước độc giả La-mã vốn quen với nền văn hóa đa thần của La-mã lẫn Hy-lạp.

Chúng ta cũng thấy Ma-thi-ơ dùng danh xưng “Thiên Chúa”, đúng theo nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5, khi danh xưng “Thiên Chúa” không có mạo từ xác định, được dùng chỉ chung Ba Ngôi Thiên Chúa. Còn Mác thì dùng danh xưng “Đức Chúa Trời”, đúng theo Bản Dịch Bảy Mươi, khi danh xưng “Thiên Chúa” có mạo từ xác định, được dùng để chỉ Thiên Chúa Đức Cha.

Chúng ta có thể hiểu rằng các dịch giả của Thánh Kinh Bản Dịch Bảy Mươi đã nhấn mạnh thân vị của Đức Cha, khi dùng danh xưng “Đức Chúa Trời” để nhấn mạnh sự có một của Thiên Chúa đối với các độc giả đã quen thờ đa thần, như dân La-mã và dân Hy-lạp.

Về cơ bản, Đức Chúa Trời là Thiên Chúa. Vì vậy, việc Bản Dịch Bảy Mươi dùng thân vị đại diện cho Thiên Chúa là Đức Chúa Trời không làm khác đi ý nghĩa của câu Thánh Kinh.

“Ngươi sẽ yêu Chúa là Thiên Chúa của ngươi” là một mệnh lệnh mong chờ sự đáp ứng tự nguyện và liên tục của người nhận lệnh. Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ, động từ “sẽ yêu” được dùng với “thể hoàn thành với waw nối tiếp” (waw-consecutive perfect, weqatal). Đây là một thể đặc biệt của động từ trong tiếng Hê-bơ-rơ, dùng để diễn đạt hành động hoặc trạng thái ở tương lai hoặc mang tính mệnh lệnh, quy định, mong đợi chắc chắn.

“Trong trọn lòng ngươi, trong trọn linh hồn ngươi, và trong trọn tâm trí ngươi” nói đến một tình yêu chẳng những có nguồn gốc bên trong của một người mà còn là nói đến sự đầy trọn hoàn toàn của tình yêu ấy, trong mọi phương diện thực hữu của người ấy.

“Lòng” là trái tim, tiêu biểu cho mọi tình cảm. Yêu Chúa trong trọn lòng là đặt Chúa đứng đầu trong mọi cảm xúc mình, đồng thời cũng đặt mọi cảm xúc của mình dưới sự cai trị của Chúa. Có như vậy, chúng ta mới có thể yêu như Chúa yêu. Một tình yêu hoàn toàn vị tha, sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu, như Đấng Christ đã làm cho loài người.

“Linh hồn” là bản thể, là cái tôi đích thực của mỗi người, và cũng là sự sống của mỗi người. Yêu Chúa trong trọn linh hồn là đặt Chúa làm lẽ sống của mình, mình chỉ có thể vui mừng, bình an, và thỏa mãn khi được tương giao với Chúa. Đồng thời hoàn toàn đặt mình dưới sự cai trị của Chúa, tận dụng đời sống mình để làm thành ý muốn Chúa.

“Tâm trí” là sự nhận thức và suy luận. Yêu Chúa trong trọn tâm trí là yêu Chúa trong sự hiểu biết Lời Chúa, thờ phượng Chúa theo lẽ thật của Lời Chúa. Đồng thời tâm trí cũng luôn hướng về Chúa, mà Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phao-lô, gọi đó là sự “cầu nguyện không thôi” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:17). Một sự liên tục tương giao với Chúa qua sự suy ngẫm Lời Chúa, trò chuyện với Chúa, và đối chiếu mọi sự quan sát, nhận thức của mình với Lời Chúa để luôn hành xử đúng theo Lời Chúa.

Chúng ta thấy Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5 dùng “sức mạnh”. Ma-thi-ơ 22:37 dùng “tâm trí”. Mác thì dùng cả “sức mạnh” lẫn “tâm trí”. Đây chính là sự Thần cảm tuyệt vời của Đức Thánh Linh để những độc giả Thánh Kinh thời Tân Ước hiểu rõ ý nghĩa của Lời Chúa trong Cựu Ước.

Từ ngữ được dịch là “sức mạnh” trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5 là “מְאֹד” (mᵊ’ōḏ – H3966) /meh-ode’ – mê-ốt/. Đó là một từ ngữ thường mang nghĩa: “rất”, “nhiều”, “vô cùng”, “vượt trội”. Nó làm tăng cường các phẩm chất, hành động, cảm xúc, số lượng, và mệnh lệnh. Vì nó có thể đứng độc lập như một trạng từ hoặc hoạt động như một danh từ (như “sự dư dật”, “quyền năng”, “sức mạnh”) nên từ này có tính linh hoạt đáng kể trong Cựu Ước.

Trong Cựu Ước, có ba lần từ ngữ này được dùng với ý nghĩa là “sức mạnh” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5; II Các Vua 23:25; Na-hum 2:1).

Khái niệm về sức mạnh hoặc năng lực trong Cựu Ước bao gồm toàn bộ khả năng của một người. Đó là sức mạnh vật chất của thân thể xác thịt; sức mạnh tinh thần là sự trí thức; và sức mạnh tài nguyên như tiền bạc, phương tiện, của cải, quyền thế…

Yêu Chúa trong trọn sức mạnh là đặt Chúa làm đối tượng được ưu tiên phụng sự với trọn vẹn sức khỏe, sự trí thức, và mọi tài nguyên của mình. Đồng thời để Chúa cai trị mọi sự ấy.

Khi Đức Chúa Jesus trích dẫn Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5, Ngài không dùng từ “sức mạnh” mà dùng từ “tâm trí” để nói lên năng lực lớn nhất chính là sự trí thức của một người. Thật vậy, Châm Ngôn 24:5 khẳng định rằng:

“Người khôn sáng thì có sức mạnh và người trí thức làm tăng thêm năng lực.”

Cách dùng “tâm trí” thay thế cho “sức mạnh” của Đức Chúa Jesus đã mở rộng sự hiểu biết ý nghĩa Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5 cho con dân Chúa trong thời Tân Ước. Nói cách khác, nhóm chữ “trong trọn sức mạnh” có thể thay thế bằng “trong trọn sự vượt trội”. Và chắc chắn là “sức mạnh” hay “sự vượt trội” không chỉ có nghĩa là năng lực của xác thịt. Đó phải là năng lực, sức mạnh, hay sự vượt trội của thuộc thể lẫn thuộc linh. Nhưng đứng đầu chính là sức mạnh tâm trí hay sự vượt trội trong trí thức. Vì nếu tâm trí không được dùng để yêu Chúa thì sức mạnh của thể xác hoặc sức mạnh của tài nguyên vật chất sẽ không thể nào được Chúa làm chủ.

Chính vì thế mà Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phao-lô, đã dạy cho con dân Chúa lẽ thật này:

“Vì những khí giới dùng trong cuộc chiến tranh của chúng tôi không thuộc về xác thịt. Nhưng đối với Đức Chúa Trời là sức mạnh cho sự triệt hạ các đồn lũy; cho sự triệt hạ các lý luận cùng mọi sự cao tự nổi lên, nghịch lại sự hiểu biết Đức Chúa Trời; và bắt giữ mọi ý tưởng vào sự vâng phục Đấng Christ.” (II Cô-rinh-tô 10:4-5).

“Bắt giữ mọi ý tưởng vào sự vâng phục Đấng Christ” chính là yêu Chúa trong trọn tâm trí.

Khi Mác ghi chép lại câu chuyện, ông đã được Đức Thánh Linh Thần cảm cho ông giữ cách dùng “tâm trí” trong lời phán của Đức Chúa Jesus, nhưng cũng giữ nguyên từ ngữ “sức mạnh” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh và trong tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh Bản Dịch Bảy Mươi.

Sau khi trích dẫn và làm sáng tỏ Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5, Đức Chúa Jesus đã khẳng định: “Đây là điều răn quan trọng nhất và trước nhất”. Nhưng liền theo đó Ngài cũng phán: “Điều răn thứ nhì cũng như nó”.

“Trước nhất” có nghĩa là “điều răn thứ nhất”.

“Cũng như nó” có nghĩa là “cũng quan trọng nhất”.

Nói tóm lại, lời phán của Đức Chúa Jesus liên kết điều răn thứ nhất và thứ nhì với nhau làm một, không thể tách rời, như hai mặt của một đồng tiền, và chúng là quan trọng nhất trong tất cả các điều răn còn lại. Chúng chính là cội rễ của mọi điều răn khác và là tiêu chuẩn xét xử của hết thảy luật pháp.

Dù là bất cứ điều răn nào khác thì chúng cũng là những điều nên làm hay không nên làm dựa vào tình yêu của một người dành cho Thiên Chúa và những người khác. Luật pháp sẽ xưng hành động của một người là công chính, nếu động cơ là lòng yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu người khác như chính mình. Luật pháp sẽ lên án hành động của một người là tội lỗi, nếu động cơ là vì yêu bất cứ ai hay điều gì hơn Thiên Chúa và không yêu người khác như chính mình.

Câu “Chẳng có điều răn nào lớn hơn các điều này” có thể là lời chứng nhân gom chung hai câu “Đây là điều răn quan trọng nhất và trước nhất” với “Điều răn thứ nhì cũng như nó”, thuật lại cho Mác. Nhưng cũng có thể là lời Đức Thánh Linh giải thích thêm, qua Mác.

Ma-thi-ơ 22:40

40 Trên hai điều răn này, treo hết thảy luật pháp và các sách tiên tri.”

Lời phán của Đức Chúa Jesus vừa khẳng định một lẽ thật, vừa làm sáng tỏ tinh thần của điều răn và luật pháp của Thiên Chúa.

Động từ “treo” nói lên sự phụ thuộc của hết thảy luật pháp và các sách tiên tri vào hai điều răn: yêu Chúa trọn vẹn và yêu người như bản thân. Không có hai điều răn ấy thì không có sự tồn tại của các điều răn khác. Không có sự tồn tại của các điều răn thì cũng không có sự tồn tại của mọi luật pháp. Không có điều răn và luật pháp thì cũng không cần đến các sách tiên tri. Vì các sách tiên tri ghi lại hậu quả của sự vi phạm các điều răn, là sự bị luật pháp chế tài qua các hình phạt Thiên Chúa giáng xuống trên loài người. Đồng thời các sách tiên tri cũng nói trước về thời kỳ ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho loài người, qua cái chết của Đức Chúa Jesus Christ, Đấng giữ trọn mọi điều răn, không hề phạm tội, và làm trọn luật pháp, qua sự chết chuộc tội của Ngài.

Câu hỏi của thầy thông giáo nhằm đưa Đức Chúa Jesus vào chỗ tranh cãi không có phần thắng. Câu trả lời của Đức Chúa Jesus phá tan mọi sự tranh cãi và khai sáng cho những kẻ tranh cãi về ý nghĩa và mục đích thật của điều răn và luật pháp. Đồng thời Ngài cũng nhắc đến các sách tiên tri giãi bày thời kỳ ân điển, là khi luật pháp được làm trọn bởi Đấng Mê-si-a.

Mác 12:32-34

32 Thầy thông giáo đã thưa với Ngài: “Phải! Thưa thầy, Ngài đã nói theo lẽ thật rằng Chúa là một, chẳng có Chúa nào khác ngoài Ngài.

33 Yêu Ngài bằng tình yêu ra từ trọn lòng, ra từ trọn trí khôn, ra từ trọn sức mạnh, và yêu người lân cận như mình là quan trọng hơn mọi của lễ thiêu cùng những sinh tế.”

34 Đức Chúa Jesus thấy rằng người đã trả lời cách khôn sáng, thì đã phán với người: “Ngươi là chẳng cách xa Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” Rồi, không ai dám chất vấn Ngài nữa.

Lời phán của Đức Chúa Jesus đã bắt phục thầy thông giáo. Ông đã công nhận là Đức Chúa Jesus “đã nói theo lẽ thật”. Điều này chứng tỏ ông hiểu điều Đức Chúa Jesus phán. Ông chọn dùng danh từ “trí khôn” thay cho “tâm trí” chứng tỏ ông hiểu rất rõ vì sao Đức Chúa Jesus đã dùng “tâm trí”.

Tâm trí là sự suy ngẫm sâu sắc để đạt đến sự hiểu biết cặn kẽ. Trí khôn là kết quả đương nhiên của sự suy ngẫm sâu sắc ấy.

Thầy thông giáo vừa dùng “trí khôn” thay thế cho “tâm trí” để thể hiện mình đã hiểu rõ lời phán và cách dùng chữ của Chúa, vừa giữ “sức mạnh” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Lời Chúa. Đồng thời ông còn đưa ra sự nhận thức của mình, rằng hai điều răn cội rễ của mọi điều răn và luật pháp cùng các sách tiên tri “là quan trọng hơn mọi của lễ thiêu cùng những sinh tế.”

Thật vậy, sự hiểu biết và thực hành tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân đúng theo lời phán dạy của Thiên Chúa là quan trọng hơn mọi hình thức thờ phượng Thiên Chúa bằng nghi thức.

Lời tuyên bố của thầy thông giáo chính là sự công nhận thẩm quyền giải kinh của Đức Chúa Jesus. Ông đang nói lại lẽ thật của Cựu Ước dưới ánh sáng của sự dạy dỗ từ Ngài.

Thầy thông giáo đã được Đức Chúa Jesus khai sáng, đã được Ngài giải phóng khỏi sự hiểu điều răn, luật pháp, và các sách tiên tri chỉ đơn thuần trên bề mặt chữ nghĩa; và được giải phóng khỏi lòng kiêu ngạo, khoe khoang tưởng mình là hiểu biết Lời Chúa trong vai trò người dạy Lời Chúa cho con dân Chúa.

Đức Chúa Jesus công nhận câu trả lời của thầy thông giáo xuất phát từ sự khôn sáng. Ông đã được mở mắt thuộc linh để nhìn thấy lẽ thật của Lời Chúa.

Qua sự kiện này, chúng ta càng thấy thấm thía hơn với lời phán của Đức Chúa Jesus về những người giữ việc giảng dạy Lời Chúa, trong Do-thái Giáo thời bấy giờ: “…Họ là những giáo sư mù của những kẻ mù. Nếu kẻ mù dẫn dắt kẻ mù, cả hai sẽ cùng ngã xuống hố” (Ma-thi-ơ 15:14).

Câu “Ngươi là chẳng cách xa Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” hàm ý thầy thông giáo đã đứng ngay trước ngưỡng cửa của Vương Quốc Trời vì đã thấu hiểu tinh thần và mục đích của điều răn và luật pháp. Việc còn lại là ông có vui mừng, bỏ xuống tất cả những hình thức tôn giáo để bước vào hay không. Bước vào tức là tin nhận và hết lòng sống theo điều ông đã hiểu.

Kết thúc của sự việc là: “Rồi, không ai dám chất vấn Ngài nữa”. Hiển nhiên đây là nói về những người Pha-ri-si đang tụ tập để chờ xem kết quả chất vấn Đức Chúa Jesus của thầy thông giáo. Họ không dám tiếp tục chất vấn Chúa, vì họ nhận biết họ thật sự không hiểu Lời Chúa như Ngài nên họ không thể dùng Lời Chúa để gài bẫy Ngài.

Rất có thể có một số người khi đọc Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:5, Ma-thi-ơ 22:37, và Mác 12:30 thì cho rằng Thiên Chúa có vẻ quá độc đoán và vị kỷ. Vì lời kêu gọi yêu Thiên Chúa trong trọn lòng, trọn linh hồn, trọn tâm trí, trọn sức mạnh đòi hỏi một sự tuyệt đối dành riêng cho Thiên Chúa và vì Thiên Chúa.

Tuy nhiên, Ngài là Đấng dựng nên loài người thì Ngài đương nhiên có đủ quyền hợp pháp và hợp lý để đưa ra yêu cầu đó. Nhưng đó không phải là độc đoán và vị kỷ. Vì Thiên Chúa không đòi hỏi loài người yêu Ngài tuyệt đối một chiều. Chính Ngài đã yêu loài người trước trong trọn lòng, trọn linh hồn, trọn tâm trí, và trọn sức mạnh của Ngài.

Lời Hằng Sống của Ngài đã tỏ rõ lẽ thật ấy:

“Đấng Tự Hữu Hằng Hữu từ xa xưa đã hiện ra với tôi và phán rằng: “Phải, Ta đã yêu ngươi bằng tình yêu vĩnh hằng. Vậy nên, với sự từ ái Ta đã kéo ngươi.”” (Giê-rê-mi 31:3).

“Vì Ðức Chúa Trời đã yêu thế gian đến nỗi Ngài đã ban Con Một của Ngài, để ai tin nơi Đấng ấy sẽ không bị hư mất nhưng được sự sống vĩnh cửu.” (Giăng 3:16).

“Nhưng Đức Chúa Trời thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta, như sau: Khi chúng ta còn là những người có tội thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta.” (Rô-ma 5:8).

“Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta đã bày tỏ ra trong điều này: Vì Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài vào trong thế gian, để qua Con ấy mà chúng ta được sống. Đây là tình yêu: Ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta.” (I Giăng 4:9-10).

“Chúng ta yêu Ngài, vì Ngài đã yêu chúng ta trước.” (I Giăng 4:19).

“Các anh chị em tưởng rằng Thánh Kinh nói vô ích sao? Đấng Thần Linh ở trong chúng ta khao khát chúng ta đến nỗi ghen tuông.” (Gia-cơ 4:5).

Thiên Chúa yêu loài người trước khi loài người yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo muôn loài làm cơ nghiệp và ban cơ nghiệp ấy cho loài người. Ngay cả khi loài người phản nghịch Thiên Chúa, Ngài vẫn cứ yêu và ban cho loài người ơn cứu rỗi một cách công chính. Ơn cứu rỗi ấy được đánh đổi bằng sự Thiên Chúa Ngôi Lời phải nhập thế làm người và chịu chết cách đau thương, nhục nhả để gánh thay án phạt cho sự phản nghịch của loài người. Tình yêu của Thiên Chúa thể hiện cụ thể qua Đức Chúa Jesus Christ đối với những ai yêu, tin cậy, và vâng phục Thiên Chúa là vĩnh hằng. Lẽ thật ấy đã được Sứ Đồ Phao-lô nhận thức:

“Vì tôi tin chắc rằng: Chẳng phải sự chết, chẳng phải sự sống, chẳng phải các thiên sứ, chẳng phải các kẻ cầm quyền, chẳng phải các quyền lực, chẳng phải những sự bây giờ, chẳng phải những sự sẽ đến, chẳng phải bề cao, chẳng phải bề sâu, chẳng phải bất cứ một tạo vật nào có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta.” (Rô-ma 8:38-39).

Vậy nên, lời đòi hỏi tưởng chừng “độc đoán” ấy, thực chất là lời mời gọi đáp lại một tình yêu đã được chứng minh bằng hành động tối thượng. Thiên Chúa không đòi chúng ta yêu một vị Thần hay một “Ông Trời” xa cách, mà yêu chính Người Cha đã không tiếc chính Con Một của Ngài vì chúng ta. Ngài không đòi chúng ta tận hiến trong hoang mang, mà trong sự bảo đảm của một tình yêu đã chiến thắng cả sự chết và mọi tạo vật.

Thực tế, chúng ta cần phải nói rằng:

“Lạy Chúa! Con không xứng đáng để được Ngài yêu và cũng không xứng đáng để yêu Ngài. Con cảm tạ Ngài vì Ngài đã yêu con trước bằng tình yêu đời đời và ban cho con quyền được yêu Ngài. Xin Ngài giúp cho con có thể yêu Ngài trong trọn lòng, trong trọn linh hồn, trong trọn tâm trí, và trong trọn tất cả những gì là con hoặc thuộc về con. Con cảm tạ Ngài. Trong danh của Đức Chúa Jesus, con cầu xin. A-men!”

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
17/01/2026

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Lòng Con Vẫn Mong Chờ”:

https://karaokethanhca.net/long-con-van-mong-cho/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/