Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL128 Đấng Christ Là Con của Ai? Sự Dâng Hiến của Một Người Đàn Bà Góa

526 views

YouTube: https://youtu.be/1VlinoDUMmM

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL128 Đấng Christ Là Con của Ai?
Sự Dâng Hiến của Một Người Đàn Bà Góa
Ma-thi-ơ 22:41-46; Mác 12:35-37, 41-44; Lu-ca 20:41-44; 21:1-4

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 22:41-46

41 Khi những người Pha-ri-si đã nhóm nhau lại, Đức Chúa Jesus đã hỏi họ,

42 rằng: “Các ngươi nghĩ sao về Đấng Christ? Ngài là con của ai?” Họ nói với Ngài: “Của Đa-vít.”

43 Ngài hỏi họ: “Vậy, sao Đa-vít trong thần trí gọi Ngài là Chúa, rằng:

44 ‘Chúa phán với Chúa của tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta, cho tới khi Ta đặt những kẻ thù của Ngươi dưới chân Ngươi”‘? {Thi Thiên 110:1}

45 Vậy, nếu Đa-vít gọi Ngài là Chúa, thì sao Ngài là con của người?”

46 Không ai đã có thể đáp trả Ngài một lời. Từ ngày đó, cũng không ai dám chất vấn Ngài nữa.

Mác 12:35-37

35 Đức Chúa Jesus đang giảng dạy trong Đền Thờ, đã cất tiếng phán: “Sao các thầy thông giáo nói rằng Đấng Christ là con Đa-vít?

36 Chính Đa-vít đã bởi Đức Thánh Linh nói: ‘Chúa đã phán với Chúa tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta! Cho tới khi Ta đặt những kẻ thù nghịch của Ngươi dưới chân Ngươi.”‘ {Thi Thiên 110:1}

37 Chính Đa-vít gọi Ngài là Chúa, thì thế nào Ngài là con của người?” Đám đông lớn đã vui nghe Ngài.

Mác 12:41-44

41 Ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, Ngài đã nhìn xem đám đông đặt tiền vào rương đựng tiền dâng như thế nào. Nhiều người giàu đã đặt nhiều tiền vào rương.

42 Một bà góa khó nghèo đã đến, đặt vào rương hai đồng tiền nhỏ, ấy là tương đương một đồng cốt-ran-tét. {Một đồng cốt-ran-tét (kodrantēs) tương đương 1/64 đồng đơ-ni-ê. Một đơ-ni-ê tương đương tiền công lao động của một ngày vào thời ấy.}

43 Ngài đã gọi các môn đồ của Ngài, phán với họ: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng bà góa khó nghèo này đã đặt vào nhiều hơn hết thảy những người đã đặt tiền vào rương đựng tiền dâng.

44 Vì hết thảy họ đã đặt vào rương từ sự dư dật của mình, còn bà thì đặt vào từ hết thảy sự thiếu thốn của mình, với hết thảy những gì bà có, tận hết thảy sự nuôi sống mình.”

Lu-ca 20:41-44

41 Đức Chúa Jesus đã hỏi họ: “Sao người ta nói Đấng Christ là con Đa-vít?

42 Vì chính Đa-vít đã nói trong sách Thi Thiên rằng: ‘Chúa đã phán với Chúa tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta!

43 Cho tới khi Ta đặt những kẻ thù nghịch của Ngươi làm bệ cho chân Ngươi.”‘ {Thi Thiên 110:1}

44 Vậy, Đa-vít gọi Ngài là Chúa thì thế nào Ngài là con của người?”

Lu-ca 21:1-4

1 Ngài đã ngước nhìn, thấy những người giàu đang đặt tiền dâng hiến vào rương đựng tiền dâng.

2 Ngài đã thấy một bà góa khó nghèo kia đặt vào rương hai đồng tiền nhỏ.

3 Ngài phán: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng: Chính bà góa khó nghèo này đã đặt vào rương nhiều hơn hết thảy người khác.

4 Vì hết thảy những người kia đã từ sự dư dật mình đặt vào rương lễ vật; nhưng bà đã đặt vào rương từ sự thiếu thốn mình, hết thảy sự nuôi sống mình.”

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau học về hai sự kiện xảy ra trong khuôn viên Đền Thờ, sau khi những người Sa-đu-sê đã thất bại trong việc gài bẫy Đức Chúa Jesus với câu hỏi Thần học về sự sống lại.

Thứ nhất là sự kiện Đức Chúa Jesus đặt câu hỏi về thân phận của Đấng Christ cho những người Pha-ri-si. Thứ nhì là sự Đức Chúa Jesus ngồi quan sát sự dâng hiến tiền của những người đến Đền Thờ, thờ phượng Đức Chúa Trời.

Và kính thưa Hội Thánh, qua linh vụ viết bộ tiểu thuyết “Những Ngày Sau Cùng Trong Lịch Sử Tự Trị của Loài Người” [1], [2], tôi nhận thấy rằng các bài giảng chú giải Thánh Kinh cũng có thể được biên soạn theo phong cách kể chuyện. Như vậy sẽ bớt đi phần khô khan mà còn giúp cho chúng ta dễ dàng hòa lòng vào câu chuyện với các nhân vật trong Thánh Kinh. Vì thế, bắt đầu từ nay, chúng tôi sẽ soạn bài giảng theo phong cách đó. Nguyện Đức Thánh Linh soi sáng chúng ta, dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa, và ban cho chúng ta sự vui thỏa trong khi học Lời Hằng Sống của Thiên Chúa.

Ma-thi-ơ 22:41-42

41 Khi những người Pha-ri-si đã nhóm nhau lại, Đức Chúa Jesus đã hỏi họ,

42 rằng: “Các ngươi nghĩ sao về Đấng Christ? Ngài là con của ai?” Họ nói với Ngài: “Của Đa-vít.”

Mác 12:35

35 Đức Chúa Jesus đang giảng dạy trong Đền Thờ, đã cất tiếng phán: “Sao các thầy thông giáo nói rằng Đấng Christ là con Đa-vít?

Lúc bấy giờ, đang vào những ngày cuối cùng trước Lễ Vượt Qua, lễ hội lớn nhất của dân Do-thái. Đó cũng là lúc Thành Giê-ru-sa-lem không chỉ nhộn nhịp với cư dân địa phương mà còn tràn ngập hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người I-sơ-ra-ên về từ khắp các vùng đất thuộc đế quốc La-mã: từ Ga-li-lê, Pê-rê, Đê-ca-bô-li, và cả những nơi xa xôi hơn. Họ chen nhau đổ về Thành Thánh để dâng sinh tế cho Lễ Vượt Qua tại Đền Thờ, khiến không khí nơi đây trở nên sôi động, căng thẳng và đầy kỳ vọng về Đấng Mê-si-a.

Đức Chúa Jesus đang giảng dạy ngay trong khuôn viên Đền Thờ, cụ thể là tại các sân trong của Đền Thờ, nơi rộng lớn có thể chứa hàng ngàn người. Đây là khu vực công cộng nhất, nơi các thầy dạy luật, các thầy thông giáo, và dân chúng tụ họp để nghe giảng, tranh luận Thần học, và quan sát các hoạt động tế lễ.

Sau khi đã đối đáp khôn sáng với các nhóm Pha-ri-si, Sa-đu-sê, và thầy thông giáo qua hàng loạt câu hỏi gài bẫy về việc đóng thuế cho Sê-sa, về điều răn lớn nhất, về sự sống lại, Đức Chúa Jesus đã chủ động quay sang, đặt câu hỏi ngược lại, khiến cả đám đông im lặng kinh ngạc.

Cảnh tượng ấy hiện ra như một bức tranh sống động, tràn đầy sức sống và thiêng liêng giữa lòng Giê-ru-sa-lem náo nhiệt: dòng người tìm về thờ phượng Đức Chúa Trời từ khắp nơi đổ về, chen chúc trong các sân Đền Thờ rộng lớn, nơi khói hương lễ vật bay nghi ngút từ bàn thờ dâng lên trời cao, hòa quyện với tiếng chiên kêu be be chờ giờ hiến tế, tiếng cầu nguyện thì thầm xen lẫn tiếng tranh luận sôi nổi.

Giữa trung tâm ấy, Đức Chúa Jesus đứng vững chãi, giọng nói vang vọng rõ ràng, uy quyền như sấm, trích dẫn Thi Thiên 110:1 để vén mở một chân lý sâu xa, vượt trên mọi suy nghĩ thông thường về thân phận Đấng Christ.

Đấng Christ, tức Đấng Mê-si-a được mong đợi, không chỉ là “con Đa-vít” theo dòng dõi huyết thống loài người, mà còn là Chúa của chính Vua Đa-vít theo Thần tính vĩnh cửu. Vì Ngài là Đấng ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, Đấng mà ngay cả tổ phụ dân tộc I-sơ-ra-ên cũng phải xưng hô với sự kính sợ.

Hầu hết các thầy thông giáo, những người Pha-ri-si nghiêm khắc, và cả những người Sa-đu-sê quyền thế đều có mặt đông đủ trong dịp này. Đây không chỉ là thời khắc thiêng liêng của lễ hội Vượt Qua, mà còn là cơ hội để họ khoe mẽ kiến thức, tranh luận thần học, và mong nhận được sự tôn kính từ đám đông những người về dự lễ.

“Khi những người Pha-ri-si đã nhóm nhau lại” hàm ý họ cố tình tụ tập, rủ nhau đứng ngay trước mặt Đức Chúa Jesus, có lẽ với ý định theo dõi sát sao, chờ đợi một sơ hở để bắt bẻ, chất vấn, hoặc bẻ cong lời Ngài nhằm triệt hạ uy tín của Ngài và tôn cao chính họ.

Nhưng thay vì để cho họ tiếp tục gài bẫy Ngài, chính Đức Chúa Jesus đã khéo léo xoay chuyển tình thế bằng một câu hỏi đơn giản mà sâu sắc đến mức khiến cả đám đông im phăng phắc, các đối thủ câm nín, không còn lời nào đáp trả. Chỉ còn lại tiếng vang vọng của chân lý vĩnh cửu giữa sân Đền Thờ nhộn nhịp, nơi khói hương vẫn bay và tiếng chiên vẫn kêu.

Ngài hướng lời hỏi thẳng đến những người Pha-ri-si đang tụ tập: “Các ngươi nghĩ sao về Đấng Christ? Ngài là con của ai?”

Họ đáp lại, có lẽ với giọng điệu tự tin, thậm chí khinh khỉnh, vì điều này dường như quá hiển nhiên trong truyền thống Do-thái: “Của Đa-vít.”

Thế nhưng, khi so sánh các sách Tin Lành, chúng ta nhận thấy sự khác biệt tinh tế trong cách ghi chép, điều này làm phong phú thêm bức tranh sự kiện.

Trong Ma-thi-ơ 22:41-46, Ma-thi-ơ nhấn mạnh rõ ràng rằng “khi những người Pha-ri-si đã nhóm nhau lại”, Đức Chúa Jesus trực tiếp hỏi họ câu hỏi mở đầu, rồi dẫn dắt họ vào nghịch lý từ Thi Thiên 110. Hành động đó của Chúa khiến chính những người Pha-ri-si, đối tượng chính của cuộc tranh luận, phải im lặng. Và từ khi ấy, không còn ai dám chất vấn Ngài nữa.

Còn trong Mác 12:35-37, cảnh tượng được miêu tả như Đức Chúa Jesus đang giảng dạy giữa đám đông lớn trong Đền Thờ, rồi Ngài cất tiếng hỏi chung: “Sao các thầy thông giáo nói rằng Đấng Christ là con Đa-vít?”, dường như Ngài đang nhìn ra toàn bộ đám đông, bao gồm cả dân chúng đang vui mừng lắng nghe. Sau khi Đức Chúa Jesus trích dẫn Thi Thiên và đặt câu hỏi nghịch lý, Mác ghi nhận: “Đám đông lớn đã vui nghe Ngài.”

Sự khác biệt này không mâu thuẫn mà bổ sung: Ma-thi-ơ tập trung vào cuộc đối đáp trực tiếp với nhóm Pha-ri-si, những người chủ động tụ tập để tìm cách “bắt bẻ” Đức Chúa Jesus. Mác nhấn mạnh tác động rộng lớn hơn đến đám đông dân chúng, biến khoảnh khắc ấy thành một bài giảng công khai khiến dân chúng phấn khởi vì chân lý được bày tỏ.

Ma-thi-ơ bỏ qua câu Đức Chúa Jesus hỏi dân chúng còn Mác thì bỏ qua câu Đức Chúa Jesus hỏi những người Pha-ri-si. Mỗi người ghi chép theo phong cách riêng, dưới sự Thần cảm của Đức Thánh Linh.

Dù theo cách nào, kết quả vẫn giống nhau: chân lý về Đấng Christ, vừa là “con của Đa-vít” theo huyết thống loài người, vừa là Chúa của Đa-vít theo Thần tính, đã được vén mở, khiến các đối thủ Thần học phải cúi đầu trước sự khôn sáng vượt trội của Ngài.

Ma-thi-ơ 22:43-46

43 Ngài hỏi họ: “Vậy, sao Đa-vít trong thần trí gọi Ngài là Chúa, rằng:

44 ‘Chúa phán với Chúa của tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta, cho tới khi Ta đặt những kẻ thù của Ngươi dưới chân Ngươi”‘? {Thi Thiên 110:1}

45 Vậy, nếu Đa-vít gọi Ngài là Chúa, thì sao Ngài là con của người?”

46 Không ai đã có thể đáp trả Ngài một lời. Từ ngày đó, cũng không ai dám chất vấn Ngài nữa.

Mác 12:36-37

36 Chính Đa-vít đã bởi Đức Thánh Linh nói: ‘Chúa đã phán với Chúa tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta! Cho tới khi Ta đặt những kẻ thù nghịch của Ngươi dưới chân Ngươi.”‘ {Thi Thiên 110:1}

37 Chính Đa-vít gọi Ngài là Chúa, thì thế nào Ngài là con của người?” Đám đông lớn đã vui nghe Ngài.

Lu-ca 20:41-44

41 Đức Chúa Jesus đã hỏi họ: “Sao người ta nói Đấng Christ là con Đa-vít?

42 Vì chính Đa-vít đã nói trong sách Thi Thiên rằng: ‘Chúa đã phán với Chúa tôi: “Hãy ngồi bên tay phải Ta!

43 Cho tới khi Ta đặt những kẻ thù nghịch của Ngươi làm bệ cho chân Ngươi.”‘ {Thi Thiên 110:1}

44 Vậy, Đa-vít gọi Ngài là Chúa thì thế nào Ngài là con của người?”

“Thần trí” là sự hiểu biết của tâm thần về thế giới thuộc linh. Thần trí của Thiên Chúa là thần trí đến từ Thiên Chúa, là sự hiểu biết mọi lẽ thật do Thiên Chúa trong thân vị Đấng Thánh Linh ngự trong thân thể của chúng ta, giãi bày cho chúng ta. Thần trí của Đấng Christ là thần trí đến từ thân vị loài người của Thiên Chúa Ngôi Lời. Đó là sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và ý muốn của Đức Chúa Trời do Đức Chúa Jesus giãi bày cho chúng ta [3].

Nói cách khác, “Đa-vít trong thần trí gọi Ngài là Chúa” có nghĩa là: Bởi sự Thần cảm của Đấng Thần Linh mà từ trong tâm thần, Vua Đa-vít đã nhận biết Đấng Christ chính là Thiên Chúa. Đây không phải là sự hiểu biết do suy luận của Đa-vít mà là sự hiểu biết được ban cho bởi chính Thiên Chúa trong thân vị Đấng Thần Linh.

Sau khi trích dẫn Thi Thiên 110, Đức Chúa Jesus đã hỏi những người Pha-ri-si một câu hỏi rất đơn giản mà họ lại không thể trả lời: “Vậy, nếu Đa-vít gọi Ngài là Chúa, thì sao Ngài là con của người?”

Chúng ta hãy hình tưởng:

Lời ấy vừa thốt ra, không khí giữa sân Đền Thờ dường như đột ngột lắng đọng. Tiếng chiên kêu be be vẫn vang vọng, khói hương vẫn bay, dòng người đến Đền Thờ để thờ phượng Thiên Chúa vẫn chen chúc, nhưng chung quanh nhóm Pha-ri-si, một khoảng im lặng nặng nề lan tỏa như làn sóng vô hình.

Những khuôn mặt từng tự tin, từng kiêu hãnh với chiếc áo khoác có tua rua dài thườn thượt, với những lời cầu nguyện công khai để được người ta nhìn thấy, giờ đây bỗng trở nên tái mét. Mắt họ có lẽ đã chớp liên hồi, môi mấp máy nhưng không thốt nên lời.

Câu hỏi của Đức Chúa Jesus không phải là một đòn tấn công trực diện, mà là một lưỡi dao sắc bén lặng lẽ cắt qua lớp vỏ kiến thức bề ngoài mà họ tự hào xây dựng suốt bao năm.

Họ ngạc nhiên, ngạc nhiên đến sững sờ, vì chưa bao giờ họ nghĩ đến nghịch lý ấy. Trong đầu óc họ, Đấng Christ chỉ đơn giản là “con Đa-vít”, một vị vua tương lai sẽ phục hồi Vương Quốc I-sơ-ra-ên theo kiểu trần thế, theo dòng dõi huyết thống mà họ đã thuộc nằm lòng qua các sách tiên tri. Nhưng giờ đây, chính Đa-vít, tổ phụ vĩ đại nhất, người mà họ luôn tôn kính, lại gọi Đấng Christ là Chúa.

Lẽ thật ấy đập vào mặt họ như một tia sáng chói lòa, khiến họ không thể chớp mắt, không thể né tránh. Rồi sự hụt hẫng ập đến, như một cơn gió lạnh buốt thấm qua lớp áo choàng. Họ đã tự đặt mình vào vị trí những người thầy uyên bác, những người nắm giữ chìa khóa kiến thức về Đấng Mê-si-a. Họ đã tranh luận, chất vấn, gài bẫy Đức Chúa Jesus suốt mấy ngày qua, hy vọng sẽ bắt được Ngài trong một lời nói sai lầm để hạ bệ uy tín của Ngài trước đám đông. Nhưng giờ đây, chính họ mới là những kẻ bị phơi bày: kiến thức của họ chỉ dừng ở bề mặt huyết thống, còn lẽ thật sâu xa về Thần tính của Đấng Christ thì họ hoàn toàn mù tối. Câu hỏi của Đức Chúa Jesus không chỉ làm họ câm nín, mà còn khiến họ nhận ra rằng chính họ mới là những kẻ “không biết gì”, giữa một đám đông đang háo hức lắng nghe.

Và rồi, cảm giác hổ thẹn dâng trào, cay đắng như mật đắng. Họ cảm thấy ánh mắt của đám đông đang đổ dồn về phía mình, không phải ánh mắt kính nể như mọi khi, mà là ánh mắt tò mò, ngạc nhiên, thậm chí có phần thương hại.

Những người I-sơ-ra-ên đến từ Ga-li-lê, từ Pê-rê, từ khắp các vùng đất Do-thái và cả những nơi xa xôi trong đế quốc La-mã, đang chứng kiến: các thầy Pha-ri-si, những người luôn tự xưng là người dẫn dắt thuộc linh, giờ đây đứng lặng thinh, không dám đáp một lời.

Sự im lặng của họ không phải là sự khiêm nhường, mà là sự bất lực. Họ hổ thẹn vì bị lột trần trước mặt dân chúng, không phải bởi một lập luận phức tạp, mà bởi một câu hỏi đơn giản, gần gũi, nhưng lại chứa đựng cả chiều sâu của lẽ thật Thiên Chúa.

Ma-thi-ơ đã ghi lại cách rõ ràng khoảnh khắc ấy: “Không ai đã có thể đáp trả Ngài một lời. Từ ngày đó, cũng không ai dám chất vấn Ngài nữa” (Ma-thi-ơ 22:46). Những người Pha-ri-si lặng lẽ rút lui, mang theo nỗi ngạc nhiên chưa nguôi, sự hụt hẫng sâu sắc, và nỗi hổ thẹn mà họ không thể che giấu.

Còn đám đông dân chúng thì khác: họ vui mừng, lòng đầy kinh ngạc và hy vọng, vì họ vừa được nghe một chân lý vĩ đại được bày tỏ – Đấng Christ không chỉ là Con Người, mà còn là Chúa của muôn loài.

“Đám đông lớn đã vui nghe Ngài”: Từ ngữ “vui nghe” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh có nghĩa là “nghe một cách thích thú, vui mừng, hưởng thụ”.

Đó không phải là sự nghe miễn cưỡng hay vì sợ hãi, mà nghe với sự thích thú chân thành, lòng đầy hy vọng và phấn khởi, nghe với niềm khoái lạc thuộc linh.

Họ vui vì lời giảng dạy của Đức Chúa Jesus giải phóng họ khỏi những gánh nặng của luật lệ phức tạp mà các thầy thông giáo áp đặt. Đức Chúa Jesus giảng dạy đơn giản, rõ ràng, chạm đến trái tim, không dùng ngôn từ cao siêu để che giấu sự thật.

Ngài bênh vực và tôn trọng những người bình thường. Trong khi những người Pha-ri-si coi thường họ là “dân đen không biết luật” (Giăng 7:49), thì Đức Chúa Jesus lại dành lời dạy sâu sắc cho họ, khiến họ cảm thấy được tôn trọng, được yêu thương.

Chân lý về Đấng Christ mà Ngài bày tỏ mang lại hy vọng lớn lao: Đấng Mê-si-a không chỉ là một vị vua trần thế theo dòng dõi Đa-vít, mà là Thiên Chúa Vĩnh Cửu, Đấng có quyền năng trên mọi sự. Lẽ thật này đã khơi dậy niềm tin và niềm vui trong lòng họ.

Trong khi các lãnh đạo tôn giáo hổ thẹn và im lặng, đám đông lại vui mừng lắng nghe, vì họ nhận ra: đây là Đấng dạy dỗ họ bằng tình yêu, bằng lẽ thật, không phải bằng sự kiêu ngạo hay sự gài bẫy.

Sự tương phản ấy thật rõ nét: kẻ có kiến thức bề ngoài thì câm nín, còn những người thuộc “đám đông lớn”, những tâm hồn đơn sơ, khiêm nhường, lại mở lòng đón nhận và vui mừng.

Câu này cũng là lời nhắc nhở cho chúng ta ngày nay: Tin Lành của Đức Chúa Jesus luôn được đón nhận nhất bởi những tấm lòng khiêm nhường, những người không tự cao tự đại với kiến thức hay địa vị. Khi chúng ta nghe lời Ngài với tấm lòng mở rộng, không bị ràng buộc bởi định kiến hay truyền thống của loài người, chúng ta sẽ vui nghe Ngài. Niềm vui ấy sẽ lan tỏa, như đám đông ngày ấy, giữa sân Đền Thờ.

Mác 12:41-42

41 Ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, Ngài đã nhìn xem đám đông đặt tiền vào rương đựng tiền dâng như thế nào. Nhiều người giàu đã đặt nhiều tiền vào rương.

42 Một bà góa khó nghèo đã đến, đặt vào rương hai đồng tiền nhỏ, ấy là tương đương một đồng cốt-ran-tét. {Một đồng cốt-ran-tét (kodrantēs) tương đương 1/64 đồng đơ-ni-ê. Một đơ-ni-ê tương đương tiền công lao động của một ngày vào thời ấy.}

Lu-ca 21:1-2

1 Ngài đã ngước nhìn, thấy những người giàu đang đặt tiền dâng hiến vào rương đựng tiền dâng.

2 Ngài đã thấy một bà góa khó nghèo kia đặt vào rương hai đồng tiền nhỏ.

Sau khi những người Pha-ri-si lặng lẽ rút lui trong nỗi hổ thẹn và im lặng nặng nề, Đức Chúa Jesus vẫn ngồi đó, giữa sân Đền Thờ, nơi đặt những rương đựng tiền dâng hiến. Ngài ngồi đối ngang các rương, quan sát cách đám đông đặt tiền vào đó.

Những rương ấy, theo truyền thống Do-thái thời bấy giờ, được thiết kế hình kèn loa, miệng hẹp và đáy rộng, làm bằng gỗ với phần miệng bằng đồng, để khi đồng tiền rơi vào sẽ vang lên tiếng leng keng rõ ràng, tiếng càng to càng chứng tỏ số tiền dâng càng lớn.

Mỗi rương được ghi nhãn cho các mục đích khác nhau: thuế nửa siếc-lơ, lễ vật tự nguyện, gỗ tế lễ, hương liệu, chim bồ câu, và sáu rương cho sự tự nguyện dâng hiến [4].

Giữa dòng người nhộn nhịp trong những ngày cuối trước Lễ Vượt Qua, nhiều người giàu có tiến đến. Họ đặt vào rương những số tiền lớn mà họ đã đổi sang tiền dành cho việc dâng hiến trong Đền Thờ. Tiếng leng keng vang vọng xa, thu hút ánh nhìn ngưỡng mộ từ đám đông. Họ dâng từ sự dư dật, từ những gì còn thừa thãi sau khi đã sống sung túc, như một cử chỉ hào phóng nhưng không đòi hỏi hy sinh thực sự.

Rồi, giữa muôn vàn tiếng động ấy, một bóng dáng nhỏ bé, lặng lẽ xuất hiện: một bà góa khó nghèo.

Bà bước đến với dáng vẻ khiêm nhường, có lẽ áo quần cũ kỹ, khuôn mặt khắc khổ vì cuộc sống thiếu thốn. Bà đặt vào rương hai đồng tiền nhỏ, tương đương một đồng cốt-ran-tét, chỉ bằng khoảng 1/64 đồng đơ-ni-ê – tiền công lao động một ngày của người làm thuê thời ấy.

Hai đồng tiền ấy nhỏ đến mức tiếng rơi vào rương hầu như không nghe thấy giữa tiếng leng keng ồn ào bởi những đồng tiền của những người giàu, từ các rương bên cạnh. Nhưng Đức Chúa Jesus đã nhìn thấy, không chỉ hai đồng tiền bé nhỏ ấy và hành động dâng hiến bên ngoài của bà, mà Ngài nhìn thấu tấm lòng của bà.

Mác 12:43-44

43 Ngài đã gọi các môn đồ của Ngài, phán với họ: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng bà góa khó nghèo này đã đặt vào nhiều hơn hết thảy những người đã đặt tiền vào rương đựng tiền dâng.

44 Vì hết thảy họ đã đặt vào rương từ sự dư dật của mình, còn bà thì đặt vào từ hết thảy sự thiếu thốn của mình, với hết thảy những gì bà có, tận hết thảy sự nuôi sống mình.”

Lu-ca 21:3-4

3 Ngài phán: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng: Chính bà góa khó nghèo này đã đặt vào rương nhiều hơn hết thảy người khác.

4 Vì hết thảy những người kia đã từ sự dư dật mình đặt vào rương lễ vật; nhưng bà đã đặt vào rương từ sự thiếu thốn mình, hết thảy sự nuôi sống mình.”

Sau khoảnh khắc bà góa nghèo lặng lẽ đặt hai đồng tiền nhỏ vào rương, Đức Chúa Jesus gọi các môn đồ lại gần. Các môn đồ, những người vừa chứng kiến Ngài đối đáp khôn sáng với những người Pha-ri-si và những người Sa-đu-sê, còn đang bàng hoàng vì sự im lặng đầy hổ thẹn của họ, nay lại được kéo vào một bài học khác, sâu sắc hơn, gần gũi hơn.

Họ đến gần Đức Chúa Jesus, có lẽ với vẻ mặt tò mò xen lẫn mệt mỏi, sau gần một ngày dài theo dõi mấy cuộc tranh luận căng thẳng trong Đền Thờ.

Đức Chúa Jesus chỉ ra hành động của bà góa và tuyên bố:

“Thật, Ta nói với các ngươi rằng bà góa khó nghèo này đã đặt vào nhiều hơn hết thảy những người đã đặt tiền vào rương đựng tiền dâng. Vì hết thảy họ đã đặt vào rương từ sự dư dật của mình, còn bà thì đặt vào từ hết thảy sự thiếu thốn mình, với hết thảy những gì bà có, tận hết thảy sự nuôi sống mình.”

Các môn đồ hẳn đã trải qua một loạt cảm xúc dồn dập. Đầu tiên là sự ngạc nhiên và bối rối. Họ là những người Do-thái quen thuộc với truyền thống dâng hiến: số lượng lớn, tiếng leng keng vang vọng từ những người giàu, thường được coi là dấu hiệu của sự kính sợ và phước lành. Họ có thể đã nghĩ rằng những khoản dâng lớn ấy mới xứng đáng được chú ý. Vậy mà Đức Chúa Jesus lại gọi họ đến để chỉ vào một bà góa khó nghèo, với hai đồng tiền nhỏ bé, số tiền chỉ đủ mua một ít thức ăn thô sơ cho một bữa, và khẳng định bà ấy đã dâng nhiều hơn hết thảy.

Sự tương phản ấy khiến họ sững sờ: Làm sao có thể? Bà ấy chỉ có hai đồng tiền thôi mà!

Có lẽ Phi-e-rơ, Giăng hay Gia-cơ đã nhìn nhau, mắt mở to, lòng đầy thắc mắc. Họ chưa quen với cách Thiên Chúa đo lường, không phải bằng mắt người, bằng số lượng bề ngoài, mà bằng tấm lòng và sự hy sinh thực sự.

Tiếp theo là sự xúc động sâu sắc và kính nể. Khi Đức Chúa Jesus giải thích rõ: những người giàu dâng từ sự dư dật, còn bà góa khó nghèo dâng từ sự thiếu thốn tận cùng, thậm chí dâng cả “sự nuôi sống mình”: toàn bộ những gì bà có để sống qua ngày, thì các môn đồ hẳn cảm nhận được sức nặng của đức tin ấy.

Bà không giữ lại đồng nào cho ngày mai, không tính toán phần còn lại để sống sót. Bà đặt hết vào tay Thiên Chúa, như một lời tuyên xưng: “Chúa là Đấng nuôi dưỡng con, dù con không có gì đi nữa.”

Cảm xúc ấy có lẽ khiến lòng họ rung động, một sự kính nể xen lẫn xót xa cho bà, và cả một nỗi day dứt: “Chúng tôi đã dâng gì cho Thầy? Chúng tôi theo Thầy đã lâu, nhưng có bao giờ dâng hết thảy như bà ấy chưa?”

Cuối cùng là sự thức tỉnh và tự xét. Sau khi vừa được Đức Chúa Jesus cảnh báo về những thầy thông giáo “ăn nuốt nhà cửa các bà góa” (Mác 12:40), nay họ lại thấy một bà góa thực sự, không phải nạn nhân của sự tham lam, mà là tấm gương hy sinh và tận hiến.

Điều này khiến họ suy nghĩ về chính mình: liệu họ có đang sống trong sự dư dật thuộc linh, được ở gần Đức Chúa Jesus, nghe lời Ngài dạy dỗ, nhưng vẫn giữ lại phần nào cho bản thân?

Cảm xúc ấy có thể là sự hối hận nhẹ nhàng, xen lẫn quyết tâm: Từ nay, tôi phải học theo tấm lòng ấy – dâng hiến không phải từ dư thừa, mà từ hết thảy.

Dâng “từ hết thảy sự thiếu thốn của mình”: Đây là sự dâng hiến trọn vẹn ngay giữa hoàn cảnh nghèo khó tột cùng. Cuộc sống loài người luôn có những nhu cầu thiết yếu: thức ăn để no bụng, quần áo để che thân, chỗ ở để trú ngụ. Những phương tiện đáp ứng nhu cầu ấy bao gồm tiền bạc, sức khỏe để lao động kiếm sống, hoặc công việc mang lại thu nhập. Bà góa đã rơi vào tình trạng thiếu thốn tận cùng: có lẽ không còn đủ tiền cho bữa ăn ngày mai, không còn sức khỏe dồi dào để làm việc nặng nhọc, hoặc không còn việc làm ổn định. Thế nhưng, ngay trong cảnh túng quẫn ấy, bà vẫn dâng lên Thiên Chúa phần phương tiện còn sót lại: hai đồng tiền nhỏ bé, mà không tính toán giữ lại cho nhu cầu cấp bách của chính mình. Sự dâng hiến này không phải từ dư thừa, mà từ chính sự thiếu hụt, nơi đức tin được thử thách và tỏa sáng.

Dâng “với hết thảy những gì bà có”: Bà đã dâng trọn vẹn tất cả những phương tiện vật chất còn lại trong tay, số tiền ít ỏi duy nhất bà sở hữu lúc bấy giờ. Không phải một phần nhỏ, không phải thứ thừa thãi sau khi đã lo cho bản thân, mà là toàn bộ những gì bà đang nắm giữ. Hành động ấy thể hiện sự buông bỏ hoàn toàn: bà không giữ lại đồng nào làm “dự phòng” cho ngày mai, không tính toán “phần an toàn” để sống qua ngày. Đó là sự dâng hiến toàn diện về vật chất, xuất phát từ tấm lòng tin cậy tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa.

Dâng “tận hết thảy sự nuôi sống mình”: Đây là đỉnh điểm của sự phó thác. Bà dâng không chỉ tiền bạc, mà dâng chính mạng sống và những gì cần thiết để duy trì mạng sống. Bà đặt hết thảy vào tay Thiên Chúa, tin rằng Ngài sẽ nuôi dưỡng, sẽ lo liệu, dù bà không còn gì để tự bảo vệ bản thân. Hành động ấy giống như lời tuyên xưng: “Lạy Chúa, con không còn gì nữa để nắm giữ; con đặt cả sự sống mình vào tay Ngài.” Bà không liều lĩnh mù quáng, mà tin cậy sâu xa vào Đấng đã hứa nuôi dưỡng loài chim trời và loài hoa đồng nội (Ma-thi-ơ 6:26-30).

Tổng thể, sự dâng hiến của bà góa nghèo là một bức tranh sống động về đức tin chân thật: không phải dâng từ dư dật để “an toàn”, mà dâng từ thiếu thốn để phó thác; không giữ lại gì cho riêng mình, mà đặt hết thảy vào tay Thiên Chúa. Bà dạy chúng ta rằng: khi dâng trọn vẹn, dù là tiền bạc, thời gian, sức lực hay chính cuộc đời, chúng ta không mất đi, mà trở nên giàu có trước mặt Ngài, vì Thiên Chúa trân trọng tấm lòng hy sinh và Ngài ban thưởng cho những ai tin cậy Ngài hoàn toàn.

Ngày nay, Chúa mời gọi chúng ta dâng không chỉ tiền bạc, mà cả cuộc đời: bao gồm cả những lo lắng, những kế hoạch cho tương lai. Khi chúng ta dâng từ sự thiếu thốn, có thể là thời gian bận rộn, sức khỏe yếu, tài chính eo hẹp, đó chính là lúc đức tin được thử nghiệm và Chúa được tôn cao.

Tránh dâng từ dư dật mà thiếu tấm lòng. Nhiều người chúng ta dễ rơi vào việc “dâng” những gì thừa thãi – thời gian rảnh, tiền dư cuối tháng – mà không thực sự hy sinh. Chúa nhắc nhở: hãy dâng như bà góa, từ chính những gì quý giá nhất, để tấm lòng chúng ta hướng về Ngài hoàn toàn.

Thiên Chúa thấy những điều loài người bỏ qua. Giữa thế giới ồn ào, nơi thành công được đo bằng số lượng “like”, tiền bạc, địa vị, tiếng khen, lòng ngưỡng mộ, Chúa vẫn ngồi “đối ngang” và quan sát tấm lòng thầm lặng của những người khiêm nhường.

Hãy nhận sự an ủi này: dù sự đóng góp, dâng hiến của chúng ta nhỏ bé trong mắt loài người, nhưng nếu được làm bằng cả tấm lòng, xuất phát từ đức tin thì nó là lớn lao trong mắt của Thiên Chúa.

Câu chuyện bà góa khó nghèo dâng hiến không chỉ là một bài học về dâng hiến, mà còn là lời mời gọi sống đời phó thác, hy sinh, và tin cậy tuyệt đối vào Đức Chúa Trời – Đấng luôn nhìn thấu và trân trọng những tấm lòng chân thật.

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
24/01/2026

Ghi Chú

[1] https://t.me/+rEZr8y7i8fxiZDQx

[2] https://kytanthe.net/nhungngaysaucung/

[3] https://www.sefaria.org/Mishnah_Shekalim.6?lang=bi

[4] https://thewordtoyou.net/dictionary/275-than-tri-cua-dang-christ

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Con Sẽ Luôn Luôn Chỉ Thuộc Chúa Thôi”:

https://karaokethanhca.net/con-se-luon-luon-chi-thuoc-chua-thoi/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/