YouTube: https://youtu.be/bks1waA20Gg
Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL130 Đức Chúa Jesus Quở Trách Những Thầy Thông Giáo
và Những Người Pha-ri-si – Phần 2
Ma-thi-ơ 23:13-39; Mác 12:40; Lu-ca 20:47
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
- SoundCloud: Bấm vào đây
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
Kho chứa MP3 các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Kho chứa pdf các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Ma-thi-ơ 23:13-39
13 Nhưng khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi khóa Vương Quốc Trời trước mặt người ta; các ngươi không vào, và các ngươi cũng không cho vào những ai đang vào.
14 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi nuốt hết tài sản của những bà góa, mà lại giả vờ đọc lời cầu nguyện cho thật dài. Bởi thế, các ngươi sẽ chuốc lấy án phạt càng nặng hơn.
15 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi rảo khắp biển khơi lẫn đất liền để làm ra một tín đồ; nhưng khi người ấy đã là tín đồ thì các ngươi lại biến người ấy thành con cái của hỏa ngục gấp đôi các ngươi.
16 Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mà mù! Những kẻ nói rằng: ‘Ai thề bởi Đền Thờ thì vô hiệu; nhưng ai thề bởi vàng của Đền Thờ thì người ấy có trách nhiệm.’
17 Hỡi những kẻ ngu dại và mù! Vì cái nào lớn hơn: vàng hay Đền Thờ làm cho vàng nên thánh?
18 Và các ngươi còn nói: ‘Ai thề bởi bàn thờ thì vô hiệu; nhưng ai thề bởi lễ vật trên nó thì người ấy có trách nhiệm.’
19 Hỡi những kẻ mù! Vì cái nào lớn hơn: của lễ hay bàn thờ làm cho của lễ nên thánh?
20 Vậy, kẻ đã thề bởi bàn thờ là thề bởi nó và bởi tất cả những gì trên nó.
21 Kẻ đã thề bởi Đền Thờ là thề bởi nó và bởi Đấng đang ngự trong nó.
22 Còn ai đã thề bởi trời là thề bởi ngai của Đức Chúa Trời và bởi Đấng đang ngự trên nó.
23 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, thì là, và rau cần, mà các ngươi đã bỏ điều hệ trọng hơn trong luật pháp là công lý, lòng thương xót, và sự trung tín. Những điều này các ngươi phải làm mà cũng không được bỏ qua những điều kia.
24 Hỡi những kẻ dẫn đường mà mù! Các ngươi lọc con muỗi mà nuốt con lạc đà!
25 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi làm sạch bề ngoài của chén và đĩa, nhưng bên trong thì chúng đầy dẫy sự cướp bóc và sự quá độ.
26 Hỡi người Pha-ri-si mù! Trước hết, hãy làm sạch bề trong của chén và đĩa thì bề ngoài của chúng cũng trở nên sạch.
27 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi giống những mồ mả tô trắng, những cái bề ngoài thật tỏ ra đẹp đẽ, nhưng bên trong thì chúng đầy những xương của những người chết và mọi thứ ô uế.
28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài thật tỏ ra công chính trước người ta, nhưng bên trong thì các ngươi đầy sự giả hình và sự vô pháp.
29 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi xây dựng những mồ mả cho những tiên tri, trang trí những mộ bia cho những người công chính,
30 và các ngươi nói: ‘Nếu chúng ta đã ở trong những ngày của các tổ phụ chúng ta, thì chúng ta không dự phần với họ, trong sự làm đổ máu các tiên tri.’
31 Vậy, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng các ngươi là con cháu của những kẻ đã giết các tiên tri.
32 Các ngươi hãy làm cho đầy dẫy cái lường của các tổ phụ các ngươi!
33 Hỡi những con rắn, dòng dõi của những rắn lục! Làm sao các ngươi thoát khỏi bản án của hỏa ngục?
34 Bởi vậy, này, Ta sai đến các ngươi những tiên tri, những người khôn sáng, và những thầy thông giáo. Các ngươi sẽ giết và đóng đinh một số trong họ, các ngươi sẽ đánh đập một số khác trong họ ngay trong chính nhà hội của các ngươi, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành này qua thành kia,
35 để cho sẽ đến trên các ngươi hết thảy máu công chính đã bị đổ ra trên đất, từ máu của A-bên, người công chính, cho đến máu của Xa-cha-ri, con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết giữa khoảng Đền Thờ và bàn thờ.
36 Thật, Ta nói với các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến trên thế hệ này.
37 Hỡi Giê-ru-sa-lem! Giê-ru-sa-lem! Kẻ giết các tiên tri và ném đá những người được sai đến với nó! Bao nhiêu lần Ta đã muốn gom con cái của ngươi như cách gà mái gom các gà con mình vào dưới cánh, mà các ngươi đã chẳng muốn!
38 Này, nhà của các ngươi bị bỏ lại cho các ngươi trong tình trạng hoang vu.
39 Vì, Ta bảo các ngươi, từ nay, các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho tới lúc các ngươi sẽ nói rằng: ‘Phước cho Đấng đến trong danh Chúa!'”
Mác 12:40
40 Bọn chúng nuốt những nhà của những bà góa mà giả vờ cầu nguyện dài. Chúng sẽ nhận án phạt nặng hơn.”
Lu-ca 20:47
47 Bọn chúng nuốt những nhà của những bà góa mà giả vờ cầu nguyện dài. Chúng sẽ nhận án phạt nặng hơn.”
Trong bài này, chúng ta tiếp tục học về những lời Đức Chúa Jesus quở trách những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si. Đức Chúa Jesus nêu lên bảy sự khốn khó cho họ ứng với các sự giả hình của họ.
Ma-thi-ơ 23:13
13 Nhưng khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi khóa Vương Quốc Trời trước mặt người ta; các ngươi không vào, và các ngươi cũng không cho vào những ai đang vào.
Chúng ta hãy hình tưởng trong tâm trí mình: buổi chiều đang xuống, ánh nắng vàng nhạt phủ xuống sân Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đám đông dân chúng chen chúc, lắng nghe những lời dạy dỗ lạ lùng của Đức Chúa Jesus về sự hãy làm theo những sự truyền dạy của những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, vì cớ thẩm quyền của họ, nhưng đừng làm theo họ, đừng sống giả hình như họ.
Rồi, bỗng nhiên, không khí thay đổi. Giọng Ngài trở nên nghiêm khắc, sắc bén như lưỡi gươm, nhưng không phải để đe dọa – mà để đánh thức những trái tim đang ngủ quên, trong lớp vỏ đạo đức bên ngoài.
Ngài nhìn thẳng vào nhóm những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, những người đang đứng đó với áo dài lộng lẫy, dây tua rua dài thườn thượt, và Ngài bắt đầu nói: “Khốn cho các ngươi…”
Câu đầu tiên Ngài thốt ra như một tiếng thở dài đầy đau đớn:
“Nhưng khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi khóa Vương Quốc Trời trước mặt người ta; các ngươi không vào, và các ngươi cũng không cho vào những ai đang vào.”
Chúng ta hãy tưởng tượng một cánh cửa lớn bằng gỗ sồi nặng trịch, dẫn vào một khu vườn xanh tươi đầy ánh sáng và sự sống – đó chính là Vương Quốc Trời. Đức Chúa Jesus đã mở rộng cánh cửa ấy, mời gọi mọi người bước vào: người thu thuế, người tội lỗi, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, những người đơn sơ chỉ biết tin cậy Ngài. Họ đang lần mò bước tới, lòng đầy hy vọng, chân run run vì sợ hãi nhưng vẫn tiến lên.
Thế rồi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si xuất hiện. Họ không bước vào khu vườn ấy – vì chính họ cũng không thật sự muốn vào, hoặc không nhận ra rằng lối vào thật sự là qua lòng tin đơn sơ chứ không phải qua hàng tá quy tắc tỉ mỉ họ tự tạo ra. Nhưng họ không chỉ đứng ngoài. Họ còn kéo cánh cửa lại, khóa chặt bằng những ổ khóa nặng nề làm bằng luật lệ, bằng những gánh nặng họ đặt lên vai người khác: “Phải làm thế này, phải giữ thế kia, phải rửa tay thế này, phải nộp phần mười thế nọ…”
Họ khóa cửa không phải vì sợ kẻ gian vào, mà vì sợ những người “không xứng đáng” theo cách họ định nghĩa sẽ bước qua ngưỡng cửa ấy.
Hãy hình tưởng ra cảnh một người mẹ nghèo khổ, mang theo đứa con nhỏ bệnh tật, cố gắng tiến lại gần Đức Chúa Jesus để xin Ngài chữa lành. Bà nghe đồn rằng Ngài tiếp nhận mọi người. Nhưng một thầy thông giáo chặn bà lại:
“Ngươi chưa rửa tay theo nghi thức, chưa nộp phần mười đúng quy định, chưa giữ luật Sa-bát nghiêm ngặt. Ngươi không thể vào được.”
Người đàn bà khốn khổ cúi đầu, nước mắt lăn dài, quay đi trong thất vọng. Cánh cửa Vương Quốc Trời – lẽ ra rộng mở – bị khóa chặt ngay trước mặt bà.
Nhìn cảnh những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si đóng chặt cửa vào Vương Quốc Trời, Đức Chúa Jesus không chỉ buồn, Ngài đau. Vì Ngài biết: khi một người bị ngăn cản bước vào Vương Quốc, không chỉ người ấy mất cơ hội, mà chính những người khóa cửa cũng tự khóa mình ra ngoài. Họ không vào, và họ cũng không cho người khác vào.
Có lẽ mỗi chúng ta cũng cần tự hỏi lòng mình: Có khi nào tôi – dù vô tình – cũng trở thành người giữ chìa khóa, khóa cửa ơn phước của Chúa trước mặt ai đó không? Có khi nào những tiêu chuẩn tôi đặt ra cho người khác, hoặc cho chính mình, lại trở thành gánh nặng, thay vì dẫn nhiều người đến gần Chúa hơn? Có khi nào tôi quá bận chú ý đến “cách thức đúng đắn” đến nỗi quên mất rằng Đức Chúa Jesus chính là cánh cửa, và Ngài luôn mở rộng vòng tay đón nhận?
Đức Chúa Jesus tiếp tục nói, từng lời như từng nhát búa đập vào lớp vỏ giả hình. Nhưng trước hết, Ngài đã dừng lại ở cánh cửa bị khóa ấy – một hình ảnh buồn đau, nhưng cũng đầy cảnh tỉnh cho bất cứ ai đang nghe.
Ma-thi-ơ 23:14
14 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi nuốt hết tài sản của những bà góa, mà lại giả vờ đọc lời cầu nguyện cho thật dài. Bởi thế, các ngươi sẽ chuốc lấy án phạt càng nặng hơn.
Mác 12:40
40 Bọn chúng nuốt những nhà của những bà góa mà giả vờ cầu nguyện dài. Chúng sẽ nhận án phạt nặng hơn.”
Lu-ca 20:47
47 Bọn chúng nuốt những nhà của những bà góa mà giả vờ cầu nguyện dài. Chúng sẽ nhận án phạt nặng hơn.”
Chúng ta hãy hình tưởng tiếp: Một buổi sáng sớm, khi ánh nắng đầu tiên len qua những con phố nhỏ ở Giê-ru-sa-lem. Một bà góa già nua, tóc bạc trắng, bước ra khỏi ngôi nhà nhỏ – ngôi nhà duy nhất còn lại sau khi chồng bà qua đời. Bà mặc chiếc áo choàng cũ kỹ, tay cầm ít bánh mì khô, mắt đỏ hoe vì lo lắng. Ngôi nhà ấy không chỉ là nơi trú ngụ; nó là ký ức về những ngày gia đình còn sum vầy, là chút an ninh cuối cùng giữa một xã hội khắc nghiệt, nơi phụ nữ mất chồng thường bị đẩy ra rìa.
Bà đến gặp một thầy thông giáo – người mà chồng bà từng tin tưởng, từng nhờ làm người quản lý tài sản hoặc cố vấn pháp lý. Ông ta mặc áo dài sang trọng, giọng nói ngọt ngào, đầy uy quyền thuộc linh. Ông ta ngồi nghe bà kể về nỗi lo: thuế má, nợ nần, cách nuôi sống bản thân. Rồi ông ta mỉm cười, đặt tay lên vai bà, và nói:
“Hãy tin cậy Chúa. Hãy dâng hiến nhiều hơn cho Đền Thờ, cầu nguyện nhiều hơn. Tôi sẽ giúp bà quản lý mọi việc.”
Bà tin, vì ông ta cầu nguyện dài dòng trước mặt bà, những lời tha thiết, vang vọng, nghe thật thiêng liêng, thật gần gũi với Đức Chúa Trời.
Nhưng đằng sau những lời cầu nguyện ấy là gì? Những hợp đồng mơ hồ, những khoản phí “quản lý” ngày càng tăng, những mảnh đất bị bán dần dưới danh nghĩa “dâng cho Chúa” hoặc “đóng thuế Đền Thờ”. Dần dần, ngôi nhà bị thế chấp, rồi bị tịch thu. Bà góa mất hết – không còn nhà để ở, không còn gì để bán lấy miếng ăn. Bà trở thành kẻ lang thang, trong khi thầy thông giáo kia vẫn tiếp tục bước đi trong áo dài lộng lẫy, vẫn cầu nguyện dài dòng ở góc phố để mọi người khen ngợi sự đạo đức của ông.
Đức Chúa Jesus nhìn thấy tất cả. Ngài thấy những bà góa như thế – những người lẽ ra được cộng đồng bảo vệ, được các thầy dạy dỗ, chăm sóc theo luật Chúa. Vì chính Thánh Kinh dạy phải che chở những người góa bụa, những trẻ mồ côi. Nhưng thay vì che chở, họ lại “nuốt” – như con thú săn mồi nuốt chửng con mồi yếu ớt. Họ dùng chính danh nghĩa tôn giáo để che đậy lòng tham, dùng những lời cầu nguyện dài dòng làm bình phong cho sự gian ác. Càng giả vờ thiêng liêng, tội lỗi càng nặng nề – nên Chúa nói: “án phạt càng nặng hơn.”
Chúng ta cũng cần tự hỏi lòng mình: Có khi nào chúng ta – dù không phải thầy thông giáo – cũng vô tình “nuốt” điều gì đó của những người yếu đuối? Có khi nào chúng ta dùng lời lẽ đẹp đẽ, những lời cầu nguyện dài dòng, những bài giảng hay, để che giấu sự thiếu quan tâm thật sự đến những người nghèo khổ, những người đang khốn khó? Có khi nào danh nghĩa “phục vụ Chúa” lại trở thành cái cớ để chúng ta làm giàu cho bản thân, hoặc thờ ơ với nỗi đau của người khác?
Đức Chúa Jesus không chỉ quở trách – Ngài đau lòng. Vì Ngài biết: khi người mạnh bóc lột người yếu trong danh Chúa, thì chính hình ảnh của Đức Chúa Trời bị bóp méo. Và án phạt sẽ nặng nề hơn, không phải vì Chúa thích phạt, mà vì sự gian ác ấy đã chạm đến những người mà Chúa đặc biệt yêu thương và bảo vệ.
Ma-thi-ơ 23:15
15 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi rảo khắp biển khơi lẫn đất liền để làm ra một tín đồ; nhưng khi người ấy đã là tín đồ thì các ngươi lại biến người ấy thành con cái của hỏa ngục gấp đôi các ngươi.
Chúng ta hãy hình tưởng: Một thanh niên sống ở một thành phố cảng xa xôi, có lẽ là ở Tạt-sơ hay An-ti-ốt, nơi thời bấy giờ người I-sơ-ra-ên và dân ngoại sống chen chúc. Anh ta lớn lên, nghe về Đức Chúa Trời của dân I-sơ-ra-ên – một Đấng công chính, đầy quyền năng. Anh tò mò, khao khát tìm kiếm điều gì đó sâu sắc hơn cuộc sống thường ngày đầy hỗn loạn. Rồi một ngày, anh gặp một thầy thông giáo – người vừa từ Giê-ru-sa-lem trở về sau chuyến đi dài. Thầy ấy nói chuyện rất hay: về luật pháp, về sự thánh khiết, về cách trở nên “đúng đắn” trước mặt Chúa. Anh bị cuốn hút. Thầy ấy nhiệt tình, kiên nhẫn giải thích từng chi tiết nhỏ, từ cách rửa tay đến cách buộc dây tua rua, từ những ngày Sa-bát đến những quy định về thức ăn. Người thanh niên nghĩ:
“Đây chính là con đường đến với Đức Chúa Trời!”
Thế là anh theo thầy ấy. Anh học thuộc lòng những điều răn, thay đổi lối sống, cắt đứt một số thói quen cũ. Anh trở thành “tín đồ” – một người ngoại tin vào Do-thái Giáo, một “người kính sợ Đức Chúa Trời” theo cách thầy dạy. Thầy ấy mỉm cười hài lòng, vì đã “làm ra một tín đồ”. Ông ta đã rảo khắp biển khơi lẫn đất liền để tìm kiếm và chiêu mộ những người như chàng thanh niên ấy.
Nhưng rồi điều gì xảy ra? Khi chàng thanh nên đã “thuộc về” họ, thầy thông giáo không dẫn anh đến với lòng thương xót, công lý, và sự khiêm nhường mà Chúa đòi hỏi. Thay vào đó, anh bị chất chồng thêm những gánh nặng: phải giữ hàng trăm quy tắc tỉ mỉ, phải sống trong nỗi sợ hãi liên tục rằng mình chưa đủ “thánh khiết”, phải phán xét người khác nếu họ không theo đúng khuôn mẫu.
Lòng người thanh niên dần khô cứng. Anh bắt đầu khinh thường những người chưa “biết luật” như mình. Anh trở nên kiêu ngạo, tự mãn, và đầy sự xét đoán – chính những điều mà Đức Chúa Jesus gọi là “con cái của hỏa ngục” (những kẻ đáng bị hủy diệt). Không chỉ thế, anh còn gấp đôi thầy thông giáo: vì thầy ấy ít ra còn biết mình đang giả hình, còn anh – người mới – lại tin rằng mình thật sự công chính.
Đức Chúa Jesus nhìn thấy cả hành trình ấy. Ngài thấy những người như chàng thanh niên ấy – những linh hồn chân thành bị biến thành công cụ để củng cố uy quyền của người khác. Họ không được dẫn đến với Đức Chúa Trời thật sự – Đấng đầy ân điển và lẽ thật – mà bị đẩy vào một hệ thống luật lệ chết chóc, nơi lòng thương xót bị thay bằng sự xét đoán, và tình yêu bị thay bằng sự tuân thủ máy móc. Họ trở nên “gấp đôi” tệ hơn, vì sự nhiệt thành ban đầu bị bóp méo thành sự cuồng tín và kiêu ngạo.
Ngày nay, các giáo hội mang danh Chúa đào tạo vô số những người tương tự chàng thanh niên trong câu chuyện. Rất nhiều người vênh vang với các mảnh bằng “tiến sĩ Thần học”, “tiến sĩ mục vụ”, “tiến sĩ âm nhạc”…
Chúng ta hãy tự hỏi mình: Có khi nào chúng ta cũng “rảo khắp nơi” – qua lời nói, qua mạng xã hội, qua những nhóm nhỏ – để “làm ra tín đồ”, nhưng lại vô tình dạy họ một phiên bản Tin Lành bị méo mó? Chúng ta có dẫn người khác đến với Đức Chúa Jesus – Đấng dẫy đầy ân điển – hay chỉ dẫn họ đến với những quy tắc, những tiêu chuẩn, những “đúng sai” mà chúng ta hay các giáo hội tự đặt ra? Và khi họ theo chúng ta, họ có trở nên tự do hơn trong tình yêu của Chúa, hay lại bị trói buộc trong sự xét đoán và kiêu ngạo?
Đức Chúa Jesus không chỉ quở trách – Ngài thương xót những người bị dẫn dắt sai đường. Vì Ngài biết: một tín đồ bị biến thành “con cái hỏa ngục” không chỉ là mất mát cho họ, mà còn là nỗi đau cho chính Ngài.
Ma-thi-ơ 23:16-17
16 Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mà mù! Những kẻ nói rằng: ‘Ai thề bởi Đền Thờ thì vô hiệu; nhưng ai thề bởi vàng của Đền Thờ thì người ấy có trách nhiệm.’
17 Hỡi những kẻ ngu dại và mù! Vì cái nào lớn hơn: vàng hay Đền Thờ làm cho vàng nên thánh?
Chúng ta hãy hình tưởng ra cảnh này: Vào một buổi chiều oi bức ở chợ Giê-ru-sa-lem, nơi người I-sơ-ra-ên và dân ngoại chen chúc mua bán. Một người buôn bán Hy-lạp, da ngăm, tóc xoăn, đang thương lượng với một người I-sơ-ra-ên địa phương về một lô hàng vải lụa từ Tạt-sơ. Giá cả cao, người Hy-lạp muốn có sự đảm bảo chắc chắn. Anh ta nói:
“Anh hãy thề bởi Đền Thờ của các anh rằng anh sẽ trả đủ tiền trong vòng một tháng.”
Vì người Hy-lạp biết người I-sơ-ra-ên rất tôn kính Đền Thờ của họ.
Người I-sơ-ra-ên mỉm cười nhẹ, gật đầu đồng ý. Anh ta biết rõ: theo những gì các thầy thông giáo dạy, lời thề “bởi Đền Thờ” chỉ là lời nói suông, không ràng buộc pháp lý trước mặt Chúa. Nếu đến hẹn anh ta không thể trả thì anh ta có thể biện minh:
“Tôi thề bởi Đền Thờ thôi mà, lời ấy vô hiệu!”
Và theo luật của Do-thái Giáo, không ai có thể bắt lỗi anh ta.
Người Hy-lạp, không am hiểu những quy tắc chi li nội bộ này, nghĩ rằng mình đã nhận được một lời thề rất thiêng liêng – vì Đền Thờ là nơi cao cả nhất mà anh ta từng nghe nói.
Anh ta tin tưởng, giao hàng, rồi chờ đợi. Nhưng khi hạn chót đến, tiền không thấy đâu. Người Hy-lạp đến đòi, người I-sơ-ra-ên nhún vai:
“Tôi đã thề bởi Đền Thờ, nhưng các thầy nói điều đó không có giá trị. Nếu anh muốn chắc chắn, lần sau hãy yêu cầu tôi thề bởi vàng trong Đền Thờ.”
Người Hy-lạp bàng hoàng, cảm thấy bị lừa, nhưng anh ta không biết phải làm gì – vì anh ta là người ngoại, không biết rõ về “luật nội bộ” ấy.
Những cảnh như thế xảy ra không ít. Những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, với kiến thức sâu rộng về truyền thống, đã tạo ra một hệ thống phân biệt kỳ quặc:
- Thề bởi Đền Thờ (nơi Chúa ngự) thì vô hiệu, không phải chịu trách nhiệm.
- Thề bởi vàng của Đền Thờ (vàng thánh, vàng dâng hiến) thì bị ràng buộc, phải chịu trách nhiệm.
Họ dạy con dân Chúa rằng có thể dùng lời thề “an toàn” để trốn tránh cam kết, và đặc biệt dùng với những người ngoại không quen thuộc với truyền thống Do-thái. Họ biến lời thề, vốn là cách con người bày tỏ lòng trung thực trước mặt Đức Chúa Trời, thành một trò chơi chữ, một mánh khóe để che đậy sự gian dối. Người biết rõ “luật” thì lợi dụng để lừa người không biết; người ngoại, người đơn sơ, thường là nạn nhân.
Đức Chúa Jesus nhìn thấy tất cả. Ngài gọi họ là “những kẻ dẫn đường mà mù”, rồi mạnh mẽ hơn: “những kẻ ngu dại và mù”. Ngài hỏi một câu đơn giản nhưng đâm thẳng vào tim đen của sự giả hình:
“Cái nào lớn hơn: vàng, hay Đền Thờ làm cho vàng nên thánh?”
Vàng chỉ là vật chất – đẹp, quý, nhưng không tự thánh khiết. Chính Đền Thờ, vì Chúa ngự trong đó, mới thánh hóa vàng. Nếu một người thề bởi Đền Thờ, người ấy đã thề bởi chính Chúa và mọi thứ thuộc về Ngài – bao gồm cả vàng. Còn nếu chỉ thề bởi vàng mà bỏ qua Đền Thờ, họ đang thờ lạy vật chất thay vì thờ phượng Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên, mọi lời thề đều ràng buộc, đều dẫn về Đức Chúa Trời, vì người thề là con dân của Đức Chúa Trời.
Ngày nay, dù không còn Đền Thờ vật chất và con dân Chúa thì không còn thề, nhưng có khi nào chúng ta cũng tìm “kẽ hở” trong Lời Chúa để tránh trách nhiệm? Có khi nào chúng ta dùng những lý lẽ khôn sáng, những cách giải thích khéo léo, để biện minh cho sự thiếu trung thực với người khác – đặc biệt với những người ít hiểu biết hơn, dễ tin hơn? Có khi nào chúng ta vô tình trở thành “kẻ dẫn đường mù”, dẫn dắt người khác theo những lối suy nghĩ méo mó thay vì dẫn họ đến với sự thật đơn sơ của Lời Chúa?
Đức Chúa Jesus không chỉ quở trách – Ngài đau lòng vì dân I-sơ-ra-ên, vì các dân ngoại, vì những linh hồn đơn sơ bị lừa dối dưới danh Chúa. Những kẻ dẫn đường mù không chỉ tự lạc lối, mà còn kéo theo biết bao người khác sa vào hố sâu của sự gian dối và bất công.
Ma-thi-ơ 23:18-22
18 Và các ngươi còn nói: ‘Ai thề bởi bàn thờ thì vô hiệu; nhưng ai thề bởi lễ vật trên nó thì người ấy có trách nhiệm.’
19 Hỡi những kẻ mù! Vì cái nào lớn hơn: của lễ hay bàn thờ làm cho của lễ nên thánh?
20 Vậy, kẻ đã thề bởi bàn thờ là thề bởi nó và bởi tất cả những gì trên nó.
21 Kẻ đã thề bởi Đền Thờ là thề bởi nó và bởi Đấng đang ngự trong nó.
22 Còn ai đã thề bởi trời là thề bởi ngai của Đức Chúa Trời và bởi Đấng đang ngự trên nó.
Chúng ta hãy hình tưởng: Một người nông dân nghèo từ vùng ngoại ô Ga-li-lê mang theo một con chiên con đến Đền Thờ để dâng làm của lễ chuộc tội. Anh ta không giàu có, con chiên ấy là thứ quý giá nhất gia đình có thể dâng. Trước khi dâng, anh ta gặp một thầy thông giáo đang đứng gần bàn thờ. Trong lúc trò chuyện, thầy ấy hỏi về một món nợ nhỏ mà người nông dân vay từ một người hàng xóm.
Người nông dân, muốn chứng minh lòng trung thực, nói:
“Tôi thề bởi bàn thờ này rằng tôi sẽ trả nợ trong mùa gặt tới.”
Thầy thông giáo mỉm cười, nhẹ nhàng đáp:
“Thề bởi bàn thờ thì vô hiệu thôi. Nếu muốn lời thề có giá trị, hãy thề bởi con chiên dâng trên bàn thờ ấy, vì lễ vật mới là thứ thánh khiết.”
Người nông dân bối rối. Anh ta nghĩ bàn thờ là nơi thiêng liêng nhất, nơi máu của con vật được đổ ra để chuộc tội, nơi Chúa chấp nhận của lễ. Nhưng theo lời thầy dạy, bàn thờ chỉ là “cái nền”, còn lễ vật mới là thứ quan trọng. Thế là anh ta sửa lại:
“Tôi thề bởi con chiên này trên bàn thờ…”
Anh ta tin rằng giờ thì lời thề thật sự ràng buộc. Nhưng trong lòng, anh ta vẫn thấy điều gì đó không đúng – sao lại phân biệt như vậy?
Có lẽ Đức Chúa Jesus nhìn thấy những cảnh tương tự lặp lại hằng ngày. Các thầy thông giáo lại tạo ra một “luật lệ phân biệt” mới:
- Thề bởi bàn thờ thì vô hiệu, không bị ràng buộc.
- Thề bởi lễ vật (của lễ, con vật, bánh, rượu dâng trên bàn thờ) thì bị ràng buộc, phải chịu trách nhiệm.
Họ dạy dân chúng rằng có thể dùng lời thề “an toàn” bằng bàn thờ để tránh cam kết, trong khi vẫn giữ vẻ ngoài đạo đức. Họ đảo ngược thứ tự giá trị: coi của lễ (vật chất dâng lên) lớn hơn bàn thờ (nơi Chúa hiện diện và chấp nhận của lễ). Nhưng Đức Chúa Jesus gọi họ là “những kẻ mù” và hỏi ngược lại:
“Cái nào lớn hơn: của lễ hay bàn thờ làm cho của lễ nên thánh?”
Bàn thờ không chỉ là một cái bàn bằng đồng hay đá – nó là nơi Chúa gặp gỡ loài người, nơi của lễ được thánh hóa bởi sự hiện diện của Ngài. Nếu thề bởi bàn thờ, người ấy đã thề bởi chính nơi Chúa chấp nhận sự thờ phượng, và do đó bao gồm mọi của lễ trên đó. Tương tự, thề bởi Đền Thờ là thề bởi Đấng đang ngự trong đó: chính Đức Chúa Trời. Và nếu ai thề bởi trời, thì họ đang thề bởi ngai của Đức Chúa Trời và Đấng ngự trên ngai ấy. Mọi lời thề, dù lớn hay nhỏ, dù trực tiếp hay gián tiếp, cuối cùng đều dẫn về một Đấng: Đức Chúa Trời. Không có “kẽ hở” nào để trốn tránh.
Ngày nay, dù chúng ta không còn bàn thờ vật chất và con dân Chúa thì không thề nhưng có khi nào chúng ta cũng tìm cách “phân biệt” trong lời hứa của mình? Có khi nào chúng ta dùng những lý lẽ khôn sáng: “tôi chỉ hứa thế này thôi, không phải thế kia”, “tôi cam kết theo cách này, không theo cách kia”… để tránh trách nhiệm thực sự trước Chúa và trước người? Có khi nào chúng ta coi trọng “của lễ” bên ngoài (hành động bề mặt, lời nói đẹp đẽ) hơn chính “bàn thờ”, tức là trái tim chân thành và sự hiện diện của Chúa trong mối quan hệ?
Đức Chúa Jesus không chỉ sửa chữa sự ngu dại. Ngài nhắc nhở rằng mọi lời thề, mọi lời hứa, đều phải đơn sơ và trung thực, vì cuối cùng chúng ta đang nói trước mặt Đức Chúa Trời. Không có mánh khóe nào che mắt được Ngài.
Ma-thi-ơ 23:23-24
23 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, thì là, và rau cần, mà các ngươi đã bỏ điều hệ trọng hơn trong luật pháp là công lý, lòng thương xót, và sự trung tín. Những điều này các ngươi phải làm mà cũng không được bỏ qua những điều kia.
24 Hỡi những kẻ dẫn đường mà mù! Các ngươi lọc con muỗi mà nuốt con lạc đà!
Chúng ta hãy hình tưởng: Một buổi sáng trong nhà của một thầy thông giáo. Ông cẩn thận ngồi trước bàn, cầm một nhúm lá bạc hà tươi vừa hái từ vườn nhỏ sau nhà. Ông đếm từng lá, cân chính xác một phần mười, không thiếu một chút nào. Rồi đến thì là, đến rau cần, những loại thảo mộc nhỏ bé, rẻ tiền, dùng để nêm nếm thức ăn. Ông gói chúng lại cẩn thận, mang đến Đền Thờ, dâng lên như một phần mười chính xác theo luật Môi-se. Mọi người chung quanh nhìn ông với sự kính nể:
“Thật là người công chính! Ông ấy giữ luật đến từng chi tiết nhỏ nhất!”
Nhưng cùng lúc ấy, ở góc chợ cách đó không xa, một người bán hàng nghèo bị ông kiện cáo vì nợ một khoản nhỏ. Thầy thông giáo không hề nghĩ đến việc tha thứ, không hề nhớ đến lòng thương xót. Ông đòi công lý khắc nghiệt, thậm chí dùng luật để bóp nghẹt người kia.
Khi một người mẹ góa đến xin giúp đỡ, ông chỉ đáp qua loa vài lời trong Thánh Kinh, rồi quay đi. Khi một người ngoại hỏi về đức tin, ông đáp bằng sự xét đoán lạnh lùng thay vì sự trung tín với tình yêu Chúa.
Ông tỉ mỉ nộp phần mười thảo mộc, nhưng lại bỏ qua hoàn toàn những điều trọng tâm mà chính luật pháp Chúa nhấn mạnh: công lý (đối xử công bằng với người yếu thế), lòng thương xót (tha thứ, che chở người đau khổ), và sự trung tín (sống thật với Chúa và với người).
Đức Chúa Jesus nhìn thấy tất cả. Ngài không phủ nhận việc nộp phần mười theo luật. Ngài còn nói rõ:
“Những điều này các ngươi phải làm mà cũng không được bỏ qua những điều kia.”
Nhưng Ngài gọi họ là “những kẻ dẫn đường mà mù”, và dùng một hình ảnh sống động đến mức châm biếm:
“Các ngươi lọc con muỗi mà nuốt con lạc đà!”
Hãy hình tưởng cảnh ấy: Một người ngồi trước chén nước, cầm một cái lưới rất mịn, cẩn thận lọc ra từng con muỗi nhỏ xíu đang bay lượn – vì sợ nuốt phải thứ gì “ô uế”. Ông làm việc đó với sự tập trung tuyệt đối, mồ hôi nhễ nhại, tự hào về sự tinh sạch của mình. Nhưng trong khi lọc muỗi, ông vô tư nuốt chửng cả một con lạc đà – con vật tiêu biểu cho những tội lỗi khổng lồ, bẩn thỉu, không thể nào lẫn vào chén nước – mà vẫn không hay biết!
Hình ảnh ấy vừa buồn cười vừa đau đớn. Họ tỉ mỉ đến mức vô lý với những điều nhỏ nhặt (phần mười thảo mộc), nhưng lại nuốt trọn những tội lỗi lớn lao: thiếu công lý, thiếu thương xót, thiếu trung tín. Họ lọc sạch bề ngoài, nhưng bên trong đầy những điều ô uế khổng lồ.
Chúng ta cũng nên tự hỏi chính mình. Có khi nào chúng ta cũng “lọc con muỗi” trong đời sống thuộc linh? Chúng ta cẩn thận giữ hình thức: cầu nguyện đúng giờ, đọc Thánh Kinh đủ chương, dâng hiến đúng phần trăm, mặc đồ “đúng chuẩn” khi nhóm hiệp thờ phượng Chúa… nhưng lại bỏ qua những điều trọng hơn: Có tha thứ cho người làm tổn thương mình không? Có công bằng với người dưới quyền mình không? Có thương xót người đang đau khổ chung quanh không? Có sống trung tín với Lời Chúa trong những góc khuất riêng tư không?
Đức Chúa Jesus không bảo chúng ta bỏ qua những việc nhỏ. Ngài muốn chúng ta đặt đúng thứ tự: trước hết là trái tim công chính, thương xót, trung tín; rồi những việc nhỏ sẽ tự nhiên theo sau mà không trở thành gánh nặng hay niềm kiêu hãnh giả tạo.
Ma-thi-ơ 23:25-26
25 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi làm sạch bề ngoài của chén và đĩa, nhưng bên trong thì chúng đầy dẫy sự cướp bóc và sự quá độ.
26 Hỡi người Pha-ri-si mù! Trước hết, hãy làm sạch bề trong của chén và đĩa thì bề ngoài của chúng cũng trở nên sạch.
Chúng ta hãy hình tưởng: Một buổi chiều muộn trong nhà của một người Pha-ri-si. Ông ta vừa trở về từ Đền Thờ, áo choàng trắng tinh, tay áo dài thêu chỉ vàng lấp lánh. Trước bữa ăn, ông cẩn thận mang ra bộ chén đĩa bằng bạc hoặc sứ tốt nhất. Ông đổ nước sạch, lấy khăn mềm lau từng cái chén, từng cái đĩa, chà xát kỹ lưỡng bên ngoài cho đến khi chúng bóng loáng, phản chiếu ánh nến. Ông kiểm tra từng vết bẩn nhỏ, đảm bảo không còn một dấu vân tay nào. Mọi người trong nhà nhìn ông với sự kính nể:
“Ông ấy thật sạch sẽ, thật thánh khiết!”
Nhưng khi ông đổ thức ăn vào chén, những thức ăn ngon, đắt tiền… mà chúng là thành quả của những sự tham lam, bóc lột, bức hiếp người khác, và là sự hoang phí không đáng có.
Đức Chúa Jesus nhìn thấy rõ hơn ai hết: bên trong những chiếc chén ấy không phải là bụi bẩn vật chất, mà là “sự cướp bóc và sự quá độ” – lòng tham lam, sự bóc lột người khác (như những bà góa bị nuốt nhà), sự ăn uống no nê trong khi người khác đói khổ, sự kiêu ngạo và dục vọng không kiềm chế. Họ giữ gìn hình thức bên ngoài để che đậy sự ô uế bên trong. Họ rửa chén đĩa cho sạch sẽ trước mắt người ta, nhưng trái tim họ vẫn đầy những điều xấu xa.
Ngài gọi họ là “người Pha-ri-si mù” và đưa ra lời khuyên đơn giản, sâu sắc:
“Trước hết, hãy làm sạch bề trong của chén và đĩa thì bề ngoài của chúng cũng trở nên sạch.”
Không phải bắt đầu từ bên ngoài để hy vọng bên trong sẽ theo sau. Không phải lau chùi hình thức để che giấu sự thật. Hãy bắt đầu từ trái tim: dẹp bỏ lòng tham, sự gian ác, sự giả dối. Khi bên trong được làm sạch bởi sự ăn năn, bởi ân điển của Chúa, thì bên ngoài sẽ tự nhiên trở nên sạch sẽ – không phải vì cố gắng giả tạo, mà vì sự thật từ bên trong tỏa ra.
Chúng ta cũng cần hỏi mình rằng: Chúng ta có khi nào cũng giống như thế? Chúng ta cẩn thận giữ gìn “bề ngoài” của mình: lời nói lịch sự, nụ cười thân thiện khi gặp anh chị em, bài hát thờ phượng vang vang, quần áo chỉnh tề trong khi nhóm họp… nhưng bên trong lòng thì vẫn còn những góc tối: oán giận chưa tha thứ, ghen tị với thành công của người khác, tham lam trong công việc, dục vọng không kiểm soát, hay sự thờ ơ với nỗi đau của những người chung quanh.
Đức Chúa Jesus không muốn chúng ta bỏ qua việc giữ gìn bề ngoài – Ngài muốn chúng ta đặt đúng thứ tự: trước hết làm sạch trái tim bằng cách quay về với Ngài, thú nhận tội lỗi, để Ngài rửa sạch bằng máu của Ngài. Khi bên trong sạch, thì mọi hành động bên ngoài sẽ trở nên chân thật, không còn là lớp vỏ giả tạo nữa.
Ma-thi-ơ 23:27-28
27 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi giống những mồ mả tô trắng, những cái bề ngoài thật tỏ ra đẹp đẽ, nhưng bên trong thì chúng đầy những xương của những người chết và mọi thứ ô uế.
28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài thật tỏ ra công chính trước người ta, nhưng bên trong thì các ngươi đầy sự giả hình và sự vô pháp.
Chúng ta hãy hình tưởng: Trên con đường dẫn vào Giê-ru-sa-lem, vào những ngày trước Lễ Vượt Qua. Dân chúng từ khắp nơi đổ về, đường phố nhộn nhịp. Để tránh ô uế theo luật, vì chạm phải mộ là bị coi là ô uế, không được dự lễ, người Do-thái có thói quen tô trắng những ngôi mộ vào mùa xuân. Những ngôi mộ đá được quét vôi trắng tinh, sáng bóng dưới nắng, trông đẹp đẽ, sạch sẽ, thậm chí trang nghiêm. Từ xa, chúng như những khối đá trắng muốt, nổi bật giữa cảnh vật, khiến người qua đường nghĩ rằng đây là những nơi tôn nghiêm, đáng kính.
Nhưng khi đến gần, hoặc nếu ai đó vô tình chạm phải, họ mới nhận ra: bên trong những lớp vôi trắng ấy là gì? Xương người chết mục nát, mùi hôi thối của sự phân hủy, mọi thứ ô uế và chết chóc. Bề ngoài đẹp đẽ chỉ là lớp sơn mỏng manh che đậy sự chết bên trong. Người ta tô trắng mộ không phải để tôn vinh người chết, mà để cảnh báo người sống tránh xa – nhưng chính những người tô trắng lại không nhận ra rằng lòng mình cũng giống hệt như vậy.
Đức Chúa Jesus nhìn thẳng vào những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si – những người đang đứng đó ngay hàng đầu với áo choàng trắng tinh, dây tua rua dài, khuôn mặt nghiêm trang, lời nói đầy uy quyền thuộc linh. Bề ngoài họ thật sự “đẹp đẽ”: họ cầu nguyện dài dòng ở nơi công cộng, họ giữ luật tỉ mỉ, họ được mọi người kính nể gọi là “thầy”, “ra-bi”. Dân chúng nhìn họ và nghĩ:
“Đây là những người công chính nhất!”
Nhưng Đức Chúa Jesus thấy rõ hơn. Họ là những kẻ giả hình, sống một đằng, nói một nẻo. Họ đầy dẫy sự vô pháp: lòng đầy tham lam, xét đoán, kiêu ngạo, thiếu thương xót. Họ giống hệt những mồ mả tô trắng: đẹp đẽ bên ngoài để che giấu sự chết chóc bên trong. Sự “công chính” của họ chỉ là lớp vôi trắng, mỏng manh, dễ bong tróc, không thể che đậy mãi mãi mùi hôi của tội lỗi và sự xa cách khỏi Đức Chúa Trời.
Ngài không nói điều này để sỉ nhục. Ngài nói vì Ngài đau lòng. Vì Ngài biết: khi một người chỉ chăm chút vẻ bề ngoài, họ sẽ không bao giờ tìm đến sự chữa lành thật sự từ bên trong. Họ sẽ tiếp tục sống trong lớp vỏ giả tạo, và lớp vỏ ấy cuối cùng sẽ vỡ tan, để lộ ra sự chết thuộc linh.
Có khi nào chúng ta cũng tô trắng “mồ mả” của chính mình? Chúng ta giữ gìn hình ảnh: đăng ảnh chân dung đẹp, chia sẻ câu Thánh Kinh hay, nói lời khích lệ trước đám đông… nhưng bên trong lòng thì vẫn còn những “xương người chết”: oán giận chưa buông, tội lỗi chưa thú nhận, sự giả dối với chính mình và với Chúa. Chúng ta sợ người ta thấy “bên trong”, nên cứ tiếp tục quét thêm lớp vôi trắng, nhưng Đức Chúa Jesus thấy hết. Ngài không muốn chúng ta tiếp tục sống như mồ mả tô trắng; Ngài muốn chúng ta được sống lại thật sự, được làm sạch từ bên trong bởi ân điển của Ngài.
Ma-thi-ơ 23:29-33
29 Khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si, là những kẻ giả hình! Vì các ngươi xây dựng những mồ mả cho những tiên tri, trang trí những mộ bia cho những người công chính,
30 và các ngươi nói: ‘Nếu chúng ta đã ở trong những ngày của các tổ phụ chúng ta, thì chúng ta không dự phần với họ, trong sự làm đổ máu các tiên tri.’
31 Vậy, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng các ngươi là con cháu của những kẻ đã giết các tiên tri.
32 Các ngươi hãy làm cho đầy dẫy cái lường của các tổ phụ các ngươi!
33 Hỡi những con rắn, dòng dõi của những rắn lục! Làm sao các ngươi thoát khỏi bản án của hỏa ngục?
Chúng ta hãy hình tưởng: Một buổi chiều nắng vàng trên những ngọn đồi chung quanh Giê-ru-sa-lem. Những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si dẫn một nhóm học trò đi dạo qua nghĩa trang cổ, nơi họ đã đầu tư xây dựng và trang trí những ngôi mộ cho các tiên tri xưa, như: Ê-li, Ê-li-sê, Ê-sai, Giê-rê-mi…
Những ngôi mộ được xây bằng đá trắng, khắc chữ đẹp, trang trí hoa văn tinh xảo, thậm chí có cả những tấm bia tưởng niệm lộng lẫy. Dân chúng đi qua nhìn mà khen ngợi:
“Họ thật kính trọng các tiên tri! Họ khác hẳn tổ phụ chúng ta ngày xưa, những kẻ đã giết các tiên tri!”
Các thầy đứng đó, tay chỉ vào mộ, giọng đầy tự hào:
“Nếu chúng ta sống vào thời ấy, chúng ta sẽ không như các tổ phụ chúng ta đâu. Chúng ta sẽ bảo vệ các tiên tri, sẽ nghe lời họ, sẽ không làm đổ máu công chính.”
Họ nói như thể mình là những người công chính nhất, như thể họ đã vượt qua được tội lỗi của quá khứ, như thể sự giả hình của họ không liên quan gì đến dòng dõi ấy.
Nhưng Đức Chúa Jesus nhìn thấu. Ngài thấy rõ: chính việc họ xây mộ, trang trí mộ bia, và tự hào tuyên bố “chúng ta sẽ không làm như các tổ phụ” lại là bằng chứng ngược lại. Họ tự làm chứng cho mình rằng họ là con cháu – không chỉ về huyết thống, mà về tinh thần – của những kẻ đã giết tiên tri.
Vì sao? Vì trái tim họ vẫn giống hệt các tổ phụ họ: họ ghét sự thật khi sự thật chạm đến lòng kiêu ngạo của họ; họ sẵn sàng bóp méo Lời Chúa để giữ quyền lực; họ sẽ làm điều tương tự nếu một tiên tri thật sự xuất hiện và chỉ trích họ.
Ngài nói một câu khiến không khí như đông đặc:
“Các ngươi hãy làm cho đầy dẫy cái lường của các tổ phụ các ngươi!”
Nghĩa là: Hãy tiếp tục đi đến cùng con đường ấy! Hãy đổ cho đầy “cái lường” tội lỗi mà tổ phụ các ngươi đã bắt đầu, hãy hoàn tất nó! Vì các ngươi đang làm chính xác những gì họ làm: giết những người được Chúa sai đến, đuổi bắt những kẻ rao giảng sự thật.
Và rồi, Ngài gọi họ bằng tên thật sự:
“Hỡi những con rắn, dòng dõi của những rắn lục!”
Hình ảnh con rắn độc, dòng dõi của kẻ lừa dối từ vườn Ê-đen, luôn rình rập để cắn xé sự thật và sự sống.
Câu hỏi cuối cùng của Ngài như một tiếng kêu tuyệt vọng:
“Làm sao các ngươi thoát khỏi bản án của hỏa ngục?”
Không phải vì Chúa muốn họ bị phạt, mà vì Ngài biết: nếu họ tiếp tục con đường giả hình, kiêu ngạo, và từ chối sự thật, thì họ đang tự đẩy mình vào sự phán xét không thể tránh khỏi. Họ không chỉ là nạn nhân của di sản tội lỗi. Họ đang chủ động tiếp nối và làm đầy nó. Bản án của hỏa ngục là sự bị hư mất đời đời, hoàn toàn bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa.
Ngày nay, có thể chúng ta hăng say tôn vinh những thánh đồ chịu chết vì danh Chúa, và tự nhủ:
“Nếu sống vào thời ấy, tôi cũng sẽ không phản bội Chúa đâu.”
Nhưng khi Chúa sai một người nhắc nhở chúng ta về tội lỗi, về sự cần phải thay đổi, về lòng thương xót bị bỏ quên, thì chúng ta phản ứng thế nào? Chúng ta có lắng nghe, hay chúng ta tìm cách bẻ cong Lời Chúa, xét đoán người ấy, hoặc đuổi người ấy đi để giữ “sự thoải mái” của mình?
Ma-thi-ơ 23:34-36
34 Bởi vậy, này, Ta sai đến các ngươi những tiên tri, những người khôn sáng, và những thầy thông giáo. Các ngươi sẽ giết và đóng đinh một số trong họ, các ngươi sẽ đánh đập một số khác trong họ ngay trong chính nhà hội của các ngươi, và các ngươi sẽ đuổi bắt họ từ thành này qua thành kia,
35 để cho sẽ đến trên các ngươi hết thảy máu công chính đã bị đổ ra trên đất, từ máu của A-bên, người công chính, cho đến máu của Xa-cha-ri, con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết giữa khoảng Đền Thờ và bàn thờ.
36 Thật, Ta nói với các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến trên thế hệ này.
Chúng ta hãy tiếp tục hình tưởng: Đức Chúa Jesus đứng đó, không còn chỉ trích bằng những hình ảnh châm biếm nữa, mà nói như một người tiên tri đang tuyên bố Lời Chúa. Ngài nói:
“Ta sai đến các ngươi…”
Chính Ngài, Đấng Mê-si-a, sẽ tiếp tục sai phái những người mang Lời Chúa, những tiên tri rao giảng sự thật, những người khôn sáng soi sáng lòng người, những thầy thông giáo thật sự giải thích Thánh Kinh với lòng khiêm nhường. Những người ấy sẽ đến, không phải để tranh quyền, mà để kêu gọi ăn năn, để mời gọi trở về với Đức Chúa Trời cách thật sự.
Nhưng Ngài biết rõ điều gì sẽ xảy ra. Dân chúng, đặc biệt là những lãnh đạo tôn giáo đang đứng trước mặt Ngài, sẽ không đón nhận. Họ sẽ làm chính xác những gì mà các tổ phụ họ đã làm:
- Giết một số bằng gươm giáo, đóng đinh họ như tội nhân.
- Đánh đập họ ngay trong nhà hội, nơi lẽ ra là nơi thờ phượng và học hỏi Lời Chúa.
- Đuổi bắt họ từ thành này sang thành kia, không cho họ nơi trú ngụ, không cho họ cơ hội rao giảng.
Những việc ấy không chỉ là dự đoán. Chúng là lời tiên tri về chính những gì sắp xảy ra sau khi Ngài bị đóng đinh: các sứ đồ, các môn đồ đầu tiên, những người như Ê-tiên bị ném đá, Phao-lô bị đánh đập và đuổi bắt, Gia-cơ bị giết bằng gươm… Tất cả đều xảy ra dưới bàn tay của những người tự cho mình là “công chính”.
Đức Chúa Jesus nói rõ lý do:
“Để cho sẽ đến trên các ngươi hết thảy máu công chính đã bị đổ ra trên đất.”
Ngài liệt kê từ đầu đến cuối lịch sử:
- Từ máu A-bên – người công chính đầu tiên bị giết bởi anh mình (Sáng Thế Ký 4), máu vô tội đầu tiên kêu lên đòi công lý.
- Đến máu Xa-cha-ri, con của Ba-ra-chi – một tiên tri bị giết ngay trong sân Đền Thờ, giữa bàn thờ và Nơi Thánh (II Sử Ký 24:20-22), máu của ông kêu lên: “Nguyện Đấng Tự Hữu Hằng Hữu xét thấy và đòi lại!”
Từ A-bên đến Xa-cha-ri bao trùm toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước (vì trong thứ tự Thánh Kinh tiếng Hê-bơ-rơ, A-bên là nạn nhân đầu tiên, Xa-cha-ri là nạn nhân cuối cùng trong phần Sử Ký).
Đức Chúa Jesus đang nói: mọi máu công chính bị đổ ra vì sự thật, từ đầu đến cuối lịch sử, sẽ đổ trên thế hệ này. Không phải vì Chúa muốn trả thù, mà vì họ đang tiếp nối và làm đầy dẫy tội lỗi ấy bằng cách từ chối Đấng Công Chính lớn nhất: chính Ngài.
Rồi Ngài kết thúc bằng lời khẳng định chắc chắn:
“Thật, Ta nói với các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến trên thế hệ này.”
Lời ấy không phải là lời nguyền rủa, mà là lời cảnh tỉnh cuối cùng. Thế hệ ấy sẽ thấy sự phán xét sẽ đến: Đền Thờ bị phá hủy năm 70 Công Nguyên, Thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, dân chúng bị tàn sát và bị lưu đày làm nô lệ, tất cả như Lời Chúa đã nói. Nhưng sâu thẳm hơn, đó là hậu quả của việc liên tục từ chối lời kêu gọi ăn năn.
Cho tới hiện tại, Đức Chúa Jesus vẫn tiếp tục sai phái những “tiên tri, người khôn sáng, thầy thông giáo”, qua những lời rao giảng, qua những người bạn nhắc nhở chúng ta về tội lỗi, về lòng thương xót, về sự thật. Chúng ta đáp lại thế nào? Chúng ta có lắng nghe, hay chúng ta “đuổi bắt” họ bằng cách im lặng, phớt lờ, hoặc thậm chí chống đối khi lời ấy chạm đến lòng kiêu ngạo của mình?
Ma-thi-ơ 23:37
37 Hỡi Giê-ru-sa-lem! Giê-ru-sa-lem! Kẻ giết các tiên tri và ném đá những người được sai đến với nó! Bao nhiêu lần Ta đã muốn gom con cái của ngươi như cách gà mái gom các gà con mình vào dưới cánh, mà các ngươi đã chẳng muốn!
Chúng ta hãy hình tưởng như thế này: Đức Chúa Jesus đứng trên sườn núi nhìn xuống thành phố. Ánh nắng chiều chiếu lên những bức tường thành, lên Đền Thờ vàng rực, lên những con phố nơi dân chúng vẫn đang sống cuộc đời thường ngày. Nhưng trong lòng Ngài, thành phố ấy không còn là biểu tượng của sự vinh quang nữa. Nó là một người mẹ đã đánh mất con cái, là một thành phố đã giết các tiên tri, đã ném đá những sứ giả Chúa sai đến. Ngài gọi tên nó hai lần: “Giê-ru-sa-lem! Giê-ru-sa-lem!” như một lời kêu thương xót, như một tiếng gọi cuối cùng đầy đau đớn.
Ngài nhắc lại tội lỗi của thành phố: giết các tiên tri, ném đá những người được Chúa sai đến. Từ Ê-li bị truy đuổi, Ê-sai bị cưa đôi, Giê-rê-mi bị bỏ vào hầm bùn, đến Ê-tiên sắp bị ném đá sau này, tất cả đều diễn ra trong thành phố ấy, nhân danh Thiên Chúa, dưới lớp vỏ “bảo vệ luật pháp”. Nhưng Đức Chúa Jesus không dùng lời ấy để kết án thêm nữa. Ngài dùng để bày tỏ nỗi đau: Ngài đã biết hết, đã thấy hết, và vẫn yêu.
Rồi Ngài nói điều khiến trái tim ai nghe cũng tan vỡ:
“Bao nhiêu lần Ta đã muốn gom con cái của ngươi như cách gà mái gom các gà con mình vào dưới cánh, mà các ngươi đã chẳng muốn!”
Hình ảnh ấy quá gần gũi, quá dịu dàng giữa những lời quở trách trước đó. Một con gà mái, khi trời mưa giông hoặc khi diều hâu lượn vòng trên đầu, sẽ dang rộng đôi cánh, kêu gọi đàn con nhỏ chạy đến. Chúng nép vào dưới cánh mẹ, được che chở, được sưởi ấm, được bảo vệ.
Đức Chúa Jesus tự ví mình như con gà mái ấy, Đấng đã dang rộng vòng tay, đã mời gọi dân Ngài đến với sự che chở, sự tha thứ, sự bình an thật sự. Bao nhiêu lần Ngài đã làm thế: qua các tiên tri, qua những phép lạ, qua lời dạy dỗ, và giờ đây chính Ngài đang đứng đó, dang rộng vòng tay.
Nhưng thành phố và dân chúng trong đó đã chẳng muốn. Họ chọn chạy theo những lãnh đạo giả hình, chọn giữ lớp vỏ công chính bên ngoài, chọn từ chối lời kêu gọi ăn năn. Họ không chạy đến dưới cánh Ngài. Họ quay lưng, họ còn ném đá Ngài, và họ còn kêu gào, đòi đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
Đức Chúa Jesus không chỉ là Đấng Phán Xét, Ngài là Đấng thương xót đến đau lòng. Ngài đã muốn che chở Giê-ru-sa-lem, muốn che chở dân Ngài, muốn che chở từng người chúng ta. Ngài dang rộng cánh như gà mái, nhưng chúng ta có chạy đến không? Hay chúng ta vẫn chọn chạy theo những “lớp vôi trắng” của riêng mình, những hình thức tôn giáo, những niềm kiêu hãnh, những nỗi sợ hãi?
Tiếng kêu ấy vẫn vang vọng đến hôm nay:
“Bao nhiêu lần Ta đã muốn… mà các ngươi đã chẳng muốn!”
Đức Chúa Jesus vẫn đang kêu gọi, vẫn dang rộng vòng tay. Câu hỏi không phải là Ngài có muốn che chở chúng ta không, mà là chúng ta có muốn chạy đến dưới cánh Ngài không.
Ma-thi-ơ 23:38-39
38 Này, nhà của các ngươi bị bỏ lại cho các ngươi trong tình trạng hoang vu.
39 Vì, Ta bảo các ngươi, từ nay, các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho tới lúc các ngươi sẽ nói rằng: ‘Phước cho Đấng đến trong danh Chúa!'”
Chúng ta hãy hình tưởng khoảnh khắc ấy: Thành Giê-ru-sa-lem, với Đền Thờ huy hoàng là trung tâm, nơi từng là biểu tượng của sự hiện diện Chúa, nơi dân chúng từng tụ họp để thờ phượng, dâng tế lễ, cầu nguyện. Đó chính là “nhà của các ngươi”, ngôi nhà thuộc linh, nơi Chúa từng ngự giữa dân Ngài. Nhưng giờ đây, vì họ đã từ chối Đấng Mê-si-a, đã khóa cửa Vương Quốc Trời, đã giết các tiên tri và sắp giết chính Ngài, thì ngôi nhà ấy sẽ bị bỏ lại trong tình trạng hoang vu. Danh từ “nhà” trong nguyên ngữ Hy-lạp là danh từ số ít có mạo từ xác định, giúp cho chúng ta hiểu rằng Đức Chúa Jesus ám chỉ Đền Thờ.
“Hoang vu” không chỉ là sự đổ nát vật chất, dù sau này Đền Thờ sẽ bị lính La-mã phá hủy hoàn toàn vào năm 70 Công Nguyên, mà còn là sự hoang vu thuộc linh: sự hiện diện của Chúa rút lui, Lời Chúa không còn được nghe rõ ràng, sự thờ phượng trở nên trống rỗng, lòng người khô cằn. Ngài nói:
“Nhà của các ngươi bị bỏ lại cho các ngươi”
Có nghĩa là họ sẽ chỉ còn giữ lại đống hoang tàn của Đền Thờ bằng đá bị sập tan.
Rồi Ngài nói lời chia tay đau đớn:
“Từ nay, các ngươi sẽ không thấy Ta nữa…”
Từ khoảnh khắc ấy, Đức Chúa Jesus rời khỏi Đền Thờ (như Ma-thi-ơ 24:1 ghi lại: Đức Chúa Jesus đã ra khỏi Đền Thờ…), và dân chúng sẽ không còn thấy Ngài trong hình dạng loài người nữa, cho tới một ngày nào đó trong tương lai.
Nhưng Ngài không kết thúc bằng sự tuyệt vọng. Lời cuối cùng là một lời hứa, một tia sáng xuyên qua bóng tối:
“…cho tới lúc các ngươi sẽ nói rằng: ‘Phước cho Đấng đến trong danh Chúa!'”
Câu ấy trích từ Thi Thiên 118:26. Đó là lời chào mừng Đấng Mê-si-a mà dân chúng đã hát vang, khi Ngài vào Thành Giê-ru-sa-lem trên lưng lừa, chỉ vài ngày trước (Ma-thi-ơ 21:9). Lúc ấy, họ hô to: “Phước cho Đấng đến trong danh Chúa!” Nhưng lòng họ chưa thật sự đón nhận. Giờ đây, Đức Chúa Jesus nói rằng một ngày nào đó, dân Ngài – hoặc ít nhất một phần còn sót lại – sẽ nói lại lời ấy với lòng chân thật, với sự ăn năn và nhận biết. Đó là ngày họ sẽ nhìn thấy Ngài trở lại, hoặc nhận ra Ngài trong sự hiện diện đầy đủ của Ngài.
Lời ấy mang hy vọng: dù thành phố đã từ chối, dù “nhà” đã hoang vu, dù Ngài phải rời đi, thì câu chuyện chưa kết thúc. Chúa vẫn chờ đợi ngày dân Ngài quay về, ngày họ nhận ra Đấng đến trong danh Chúa là chính Ngài, và ngày họ chào đón Ngài bằng lời chúc phước thật lòng.
Toàn bộ Ma-thi-ơ 23 cho chúng ta thấy Chúa không chỉ phán xét sự giả hình – Ngài thương xót những kẻ bị lừa dối bởi chính sự giả hình ấy. Ngài quở trách để đánh thức, cảnh báo để cứu vớt, và khóc để bày tỏ tình yêu.
Hôm nay, khi chúng ta nhìn vào chính mình, nếu chúng ta cũng thấy bóng dáng của những người Pha-ri-si: lớp vỏ công chính bên ngoài, lớp ô uế bên trong, những lần chúng ta “khóa cửa” ơn phước, “nuốt” điều gì đó của người yếu đuối, “lọc muỗi nhưng nuốt lạc đà”, tô trắng mồ mả đời mình… thì tiếng khóc của Chúa vẫn vang vọng: Ngài vẫn muốn gom chúng ta vào dưới cánh Ngài. Và Ngài vẫn chờ ngày chúng ta thật lòng nói: “Phước cho Đấng đến trong danh Chúa!”
Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.
Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
07/02/2026
Ghi Chú:
Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.
Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.
Karaoke Thánh Ca: “Chào Mùa Xuân”:
https://karaokethanhca.net/chao-mua-xuan/
Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.
Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.
Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:





Users Today : 12
Users Yesterday : 94
Users This Year : 6781
Total Users : 2809892
Views Today : 43
Total views : 4481756
Who's Online : 2