YouTube: https://youtu.be/uV-WShcYRpU
Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL111 Sự Giữ Các Điều Răn,
Người Giàu Khó Vào Vương Quốc Trời
Ma-thi-ơ 19:16-30; Mác 10:17-31; Lu-ca 18:18-30
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
- SoundCloud: Bấm vào đây
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
Kho chứa MP3 các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Kho chứa pdf các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Ma-thi-ơ 19:16-30
16 Này, có một người đã đến và hỏi Ngài: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm việc lành gì để tôi có sự sống vĩnh cửu?”
17 Ngài đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa. Nếu ngươi muốn vào trong sự sống, hãy giữ các điều răn.”
18 Người hỏi Ngài: “Các điều nào?” Đức Chúa Jesus đã phán: “Ngươi sẽ không giết người. Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối.
19 Hãy hiếu kính cha và mẹ của ngươi. Ngươi hãy yêu kẻ lân cận của ngươi như mình.”
20 Người trẻ ấy thưa với Ngài: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi. Tôi còn thiếu điều gì?”
21 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi, bán những gì ngươi có mà cho những người khó nghèo, thì ngươi sẽ có kho tàng ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, theo Ta.”
22 Nhưng khi người trẻ ấy đã nghe lời phán thì đã đi, buồn bực; vì chàng đã có nhiều của cải.
23 Đức Chúa Jesus đã phán với các môn đồ của Ngài: “Thật, Ta bảo các ngươi rằng, người giàu sẽ khó vào trong Vương Quốc Trời.
24 Ta lại bảo các ngươi, một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
25 Các môn đồ của Ngài đã nghe thì đã vô cùng ngạc nhiên, nói rằng: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
26 Đức Chúa Jesus đã nhìn họ và phán với họ: “Với loài người điều này là không thể được, nhưng với Thiên Chúa mọi việc là có thể được.”
27 Phi-e-rơ đã đáp lời, thưa với Ngài: “Này, chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Vậy, chúng tôi sẽ ra sao?”
28 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng, các ngươi, những người đã theo Ta, trong kỳ đổi mới, khi Con Người sẽ ngự trên ngai vinh quang của Ngài, thì các ngươi cũng sẽ ngồi trên mười hai ngai mà phán xét mười hai chi phái I-sơ-ra-ên.
29 Bất cứ ai vì danh Ta mà bỏ các nhà cửa, hoặc các anh em ruột, hoặc các chị em ruột, hoặc cha, hoặc mẹ, hoặc vợ, hoặc con cái, hoặc đất ruộng, thì sẽ nhận gấp trăm lần và sẽ hưởng sự sống vĩnh cửu.
30 Nhưng nhiều người đầu sẽ nên sau cùng và những người sau cùng sẽ nên đầu.”
Mác 10:17-31
17 Ngài đang lên đường, một người kia đã chạy lại, quỳ trước Ngài và hỏi Ngài: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm gì để tôi được hưởng sự sống vĩnh cửu?”
18 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.
19 Ngươi biết các điều răn: Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không phạm tội giết người. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối. Đừng gian trá. Hãy hiếu kính cha và mẹ của ngươi.”
20 Người đã đáp lời, thưa với Ngài: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi.”
21 Đức Chúa Jesus đã nhìn người, yêu người, và bảo người: “Ngươi thiếu một điều. Hãy đi, bán hết những gì ngươi có mà cho những người khó nghèo. Ngươi sẽ có kho tàng ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, vác thập tự giá, theo Ta.”
22 Người đã buồn rầu bởi lời phán ấy. Người đã bỏ đi, rất buồn bực, vì người đã có nhiều của cải.
23 Đức Chúa Jesus đã nhìn quanh, bảo các môn đồ của Ngài: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao.”
24 Các môn đồ đã ngạc nhiên về các lời phán của Ngài. Nhưng Đức Chúa Jesus lại bảo họ rằng: “Hỡi các con trẻ! Khó biết bao cho những kẻ trông cậy nơi sự giàu có để vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
25 Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
26 Họ đã ngạc nhiên càng hơn, nói với nhau: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
27 Đức Chúa Jesus nhìn họ, phán: “Với loài người là không thể nhưng chẳng vậy với Đức Chúa Trời. Vì với Đức Chúa Trời mọi sự là có thể.”
28 Phi-e-rơ đã khởi thưa với Ngài: “Này, chúng tôi đã bỏ hết mà theo Ngài.”
29 Đức Chúa Jesus đã đáp lời, phán: “Thật, Ta bảo các ngươi, không ai vì Ta và Tin Lành, đã từ bỏ nhà cửa, hoặc các anh em ruột, hoặc các chị em ruột, hoặc cha, hoặc mẹ, hoặc vợ, hoặc con cái, hoặc đất ruộng,
30 mà người ấy chẳng nhận được trăm lần hơn ngay bây giờ, trong lúc này, về những nhà cửa, các anh em ruột, các chị em ruột, các mẹ, con cái, đất ruộng, với sự bách hại; và trong đời sẽ đến, sự sống vĩnh cửu.
31 Nhưng nhiều người đầu sẽ nên sau cùng và những người sau cùng sẽ nên đầu.”
Lu-ca 18:18-30
18 Rồi, một người cai trị kia đã hỏi Ngài rằng: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống vĩnh cửu?”
19 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.
20 Ngươi biết các điều răn: Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không phạm tội giết người. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối. Hãy hiếu kính cha của ngươi và mẹ của ngươi.”
21 Người đã thưa: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi.”
22 Đức Chúa Jesus đã nghe vậy, Ngài đã bảo người: “Ngươi còn thiếu một điều. Hãy bán hết mọi sự mà ngươi có! Hãy phân phát cho những người khó nghèo, thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, theo Ta.”
23 Người đã nghe vậy thì người đã rất buồn rầu, vì người đã rất giàu có.
24 Đức Chúa Jesus đã thấy người đã rất buồn rầu thì Ngài đã phán: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao.
25 Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
26 Những người đã nghe thì đã nói: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
27 Ngài đã phán: “Những sự không có thể với loài người thì có thể với Đức Chúa Trời.”
28 Phi-e-rơ đã thưa: “Này, chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo Ngài.”
29 Ngài đã bảo họ: “Thật, Ta bảo các ngươi, không người nào vì cớ Vương Quốc của Đức Chúa Trời từ bỏ cha mẹ, các anh em ruột, vợ, con,
30 mà người ấy không được nhận nhiều hơn trong đời này và sự sống vĩnh cửu trong đời sẽ đến.”
Trong bài này chúng ta sẽ cùng nhau học về một lẽ thật rất quan trọng. Đó là một người được cứu nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, bởi đức tin nơi sự chết chuộc tội của Đấng Christ; nhưng để được vào trong Vương Quốc Trời, hưởng sự sống đời đời thì một người phải vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa.
Có rất nhiều người lầm lẫn giữa sự được cứu và sự được ban cho sự sống đời đời.
Được cứu là được tha thứ mọi sự vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời để có thể sống nếp sống mới, không còn vi phạm Mười Điều Răn của Ngài.
Được ban cho sự sống đời đời là được Đức Chúa Trời cho sống trong Vương Quốc Trời vì đã sống nếp sống mới, vâng phục Mười Điều Răn của Ngài, Điều Răn Mới của Đức Chúa Jesus, và Điều Răn Nên Thánh của Đức Thánh Linh (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17; Giăng 13:34; Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29).
Có nhiều giáo hội mang danh Chúa dạy rằng, sự cứu rỗi và sự sống đời đời đều là sự ban cho vô điều kiện của Đức Chúa Trời. Đó là sự giảng dạy tà giáo. Vì sự cứu rỗi và sự sống đời đời đều là sự ban cho có điều kiện của Đức Chúa Trời.
Điều kiện để được cứu rỗi là nhận lấy ân điển của Đức Chúa Trời và có đức tin vào sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thể hiện bằng sự ăn năn. Ăn năn là hối tiếc vì đã vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và không muốn vi phạm nữa. Không có sự ăn năn, không có đức tin vào sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ thì không có sự cứu rỗi.
Sự sống đời đời là sự thực hữu mãi mãi hạnh phúc bên Thiên Chúa, trong Vương Quốc Trời. Điều kiện để có sự sống đời đời là vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa. Vì người không vâng giữ các điều răn của Thiên Chúa là người chống nghịch Thiên Chúa. Người chống nghịch Thiên Chúa thì bị án phạt chung cuộc là sự chết đời đời. Sự chết đời đời là sự thực hữu bị phân rẽ khỏi Thiên Chúa, mãi mãi bị đau khổ trong hồ lửa.
Ma-thi-ơ 19:16-17
16 Này, có một người đã đến và hỏi Ngài: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm việc lành gì để tôi có sự sống vĩnh cửu?”
17 Ngài đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa. Nếu ngươi muốn vào trong sự sống, hãy giữ các điều răn.”
Mác 10:17-18
17 Ngài đang lên đường, một người kia đã chạy lại, quỳ trước Ngài và hỏi Ngài: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm gì để tôi được hưởng sự sống vĩnh cửu?”
18 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.
Lu-ca 18:18-19
18 Rồi, một người cai trị kia đã hỏi Ngài rằng: “Thưa thầy tốt lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống vĩnh cửu?”
19 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.
Câu chuyện này đã xảy ra khi Đức Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài từ Ga-li-lê về lại Giu-đê vào mùa xuân của năm 27. Mục đích của chuyến đi là để dự Lễ Vượt Qua tại Giê-ru-sa-lem và để Đức Chúa Jesus hoàn thành sự chết chuộc tội cho loài người. Chúng ta thấy, các chi tiết khác nhau trong lời tường thuật của Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca không mâu thuẫn nhau, nhưng khi được kết hợp với nhau, giúp cho chúng ta nắm bắt khá đầy đủ về sự việc đã xảy ra.
Khi Chúa và các môn đồ của Ngài bắt đầu lên đường, hướng về Thành Giê-ri-cô thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước Ngài. Lu-ca ghi rằng, đó là một người cai trị, có lẽ là một trong những người cai trị nhà hội của Do-thái Giáo.
Theo Ma-thi-ơ, mục đích của người ấy khi tìm gặp Đức Chúa Jesus là để hỏi Ngài rằng, người ấy phải làm việc lành gì để người ấy có sự sống vĩnh cửu. Mác và Lu-ca thì ghi rằng, “phải làm gì” và “hưởng sự sống vĩnh cửu”. Dù cách dùng chữ khác nhau nhưng ý nghĩa không khác với lời ghi chép của Ma-thi-ơ.
Người ấy gọi Đức Chúa Jesus là “thầy tốt lành”. Chữ “thầy” được dân I-sơ-ra-ên dùng để gọi những người giảng dạy về Đức Chúa Trời và Thánh Kinh. Từ ngữ “tốt lành” còn có thể dịch là “thiện”, nói lên tính chất tốt lành, lương thiện của một người hay tính chất tốt lành của một sự việc, sự vật.
Đức Chúa Jesus đã đáp lời bằng một câu hỏi, kèm theo một lời khẳng định: “Sao ngươi gọi Ta tốt lành? Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.” Thực tế, từ ngữ “tốt lành” được chính Đức Chúa Jesus dùng để gọi “những người lành” đối nghịch với “những kẻ dữ” (Ma-thi-ơ 5:45); gọi “cây tốt” đối nghịch với “cây xấu” (Ma-thi-ơ 7:17-18). Vì thế, không có gì sai khi gọi một người là “tốt lành”, nếu đó là một người có lòng tin kính Chúa, sống theo Lời Chúa.
Tuy nhiên, trong cách gọi của người cai trị này thì hàm ý, Đức Chúa Jesus là “Đấng Tốt Lành”, một cách gọi chỉ có thể dành riêng cho Thiên Chúa. Vì thế Đức Chúa Jesus phán rằng: “Không ai tốt lành, ngoại trừ một Đấng Thiên Chúa.”
Thánh Kinh Cựu Ước gọi Thiên Chúa là thiện, tức là tốt lành:
“Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thiện và ngay thẳng. Bởi cớ ấy Ngài sẽ chỉ dạy con đường cho những kẻ có tội.” (Thi Thiên 25:8).
“Hãy tôn vinh Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, vì Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thiện; hãy hát tôn vinh danh Ngài, vì ấy là vui.” (Thi Thiên 135:3).
“Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là thiện đối với muôn loài. Sự thương xót của Ngài giáng trên mọi công việc của Ngài.” (Thi Thiên 145:9).
Không phải Đức Chúa Jesus từ chối được gọi là “Đấng Tốt Lành”. Nhưng Ngài muốn người ấy hiểu rõ, danh xưng cao quý ấy chỉ dành cho Thiên Chúa. Trừ khi người ấy biết Ngài là Thiên Chúa, người ấy không nên gọi Ngài là “Đấng Tốt Lành”.
Giáo Hội Công Giáo La-mã có một danh xưng rất phạm thượng dành cho giáo hoàng của họ. Đó là danh xưng “Đức Thánh Cha”, một danh xưng chỉ có thể dùng cho Đức Chúa Trời.
Nhiều giáo hội mang danh Chúa dùng danh xưng “Đấng Đáng Tôn Kính”, trong tiếng Anh là “the Reverend”, để gọi một số người trong hàng giáo phẩm của họ. Đó cũng là một sự phạm thượng. Vì chỉ có danh của Thiên Chúa là “đáng tôn kính”, như đã được tác giả Thi Thiên dùng để nói đến sự đáng tôn kính của danh Thiên Chúa [1]:
“Ngài đã gửi sự cứu chuộc đến dân của Ngài. Ngài đã truyền giao ước của Ngài tới đời đời. Danh Ngài là thánh và là sự đáng tôn kính.” (Thi Thiên 111:9).
Con dân Chúa cần phải cẩn thận, tránh dùng các danh xưng phạm thượng và tránh gọi người khác bằng các danh xưng phạm thượng.
Theo lời tường thuật của Mác, khi Đức Chúa Jesus bắt đầu lên đường, tiếp tục hành trình về Giê-ru-sa-lem, thì có một người đã chạy đến, quỳ trước Ngài. Điều đó hàm ý, Đức Chúa Jesus đã rời nơi tạm trú, có lẽ là một làng nhỏ nào đó trên đường đi, để tiếp tục hành trình. Chúng ta có thể hiểu rằng, vẫn có nhiều đoàn dân đi theo Ngài.
Người chạy đến với Ngài có thể không phải là người địa phương nhưng đến từ nơi khác. Rất có thể người này nghe tin Đức Chúa Jesus đang có mặt tại khu vực đó nên đã vội vã đi tìm Ngài. Khi tìm đến nơi thì Chúa lại bắt đầu lên đường nên người ấy phải chạy theo. Là một người giữ chức vụ cai trị trong Do-thái Giáo, có lẽ người ấy vốn có sự hiểu biết Lời Chúa và có tấm lòng tìm kiếm Chúa. Có lẽ nghe biết về sự giảng dạy của Đức Chúa Jesus và những phép lạ Ngài làm, người ấy tin Ngài là tiên tri của Đức Chúa Trời, nên tìm đến để hỏi Ngài điều mà người ấy vẫn thắc mắc.
Hành động quỳ xuống trước Chúa, gọi Ngài là “thầy tốt lành” thể hiện sự hạ mình khiêm nhường của người ấy, và tấm lòng sẵn sàng nghe sự phán dạy của Chúa.
Ma-thi-ơ 19:18-20
18 Người hỏi Ngài: “Các điều nào?” Đức Chúa Jesus đã phán: “Ngươi sẽ không giết người. Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối.
19 Hãy hiếu kính cha và mẹ của ngươi. Ngươi hãy yêu kẻ lân cận của ngươi như mình.”
20 Người trẻ ấy thưa với Ngài: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi. Tôi còn thiếu điều gì?”
Mác 10:19-20
19 Ngươi biết các điều răn: Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không phạm tội giết người. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối. Đừng gian trá. Hãy hiếu kính cha và mẹ của ngươi.”
20 Người đã đáp lời, thưa với Ngài: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi.”
Lu-ca 18:20-21
20 Ngươi biết các điều răn: Ngươi sẽ không ngoại tình. Ngươi sẽ không phạm tội giết người. Ngươi sẽ không trộm cắp. Ngươi sẽ không nói chứng dối. Hãy hiếu kính cha của ngươi và mẹ của ngươi.”
21 Người đã thưa: “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi.”
Mác và Lu-ca đã bỏ qua chi tiết Đức Chúa Jesus bảo người ấy hãy giữ các điều răn và người ấy hỏi Ngài là các điều nào.
Đức Chúa Jesus đã liệt kê ra năm điều răn nói về quan hệ giữa người với người. Chúng ta thấy, Đức Chúa Jesus đã không nói đến bốn điều răn đầu. Ba điều răn đầu là bổn phận của loài người đối với Thiên Chúa. Điều răn thứ tư về sự tôn thánh ngày Thứ Bảy làm ngày Sa-bát (nghỉ ngơi) là điều răn về bổn phận của loài người đối với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác, và với gia súc. Có lẽ là vì Đức Chúa Jesus muốn đề cập đến các bổn phận thiết thực giữa loài người với nhau trước.
Chúng ta thấy, Đức Chúa Jesus đã không nhắc đến điều răn thứ mười về sự chớ tham muốn những gì thuộc về người lân cận, nhưng Ngài nói đến sự hãy yêu kẻ lân cận như chính mình là sự bao gồm tất cả các điều răn về bổn phận của loài người đối với nhau.
Câu trả lời “Hết thảy các điều này tôi đã giữ từ thời thơ ấu của tôi” hàm ý, từ khi còn thơ ấu, người ấy đã được dạy cho Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và đã vâng giữ theo hình thức. Nói cách khác, người ấy đã vâng giữ các điều răn từ khi có sự hiểu biết.
Vâng giữ theo hình thức có nghĩa là vâng giữ theo bề mặt của chữ nghĩa chứ không vâng giữ theo tinh thần của điều răn. Thí dụ, một người không có hành động giết người, trộm cắp, hoặc ngoại tình nhưng trong lòng thì có ý nghĩ muốn giết người mình ghét, muốn lấy đồ vật, tiền bạc của người khác, hoặc nghĩ đến sự ngoại tình với ai đó.
Dù khẳng định mình đã vâng giữ các điều răn từ khi còn thơ ấu nhưng người ấy vẫn hỏi Đức Chúa Jesus là mình còn thiếu điều gì để có thể có được sự sống đời đời. Điều này hàm ý, người ấy tự cảm biết có sự gì đó không ổn về thuộc linh trong đời sống của mình.
Ma-thi-ơ 19:21-22
21 Đức Chúa Jesus đã bảo người: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi, bán những gì ngươi có mà cho những người khó nghèo, thì ngươi sẽ có kho tàng ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, theo Ta.”
22 Nhưng khi người trẻ ấy đã nghe lời phán thì đã đi, buồn bực; vì chàng đã có nhiều của cải.
Mác 10:21-22
21 Đức Chúa Jesus đã nhìn người, yêu người, và bảo người: “Ngươi thiếu một điều. Hãy đi, bán hết những gì ngươi có mà cho những người khó nghèo. Ngươi sẽ có kho tàng ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, vác thập tự giá, theo Ta.”
22 Người đã buồn rầu bởi lời phán ấy. Người đã bỏ đi, rất buồn bực, vì người đã có nhiều của cải.
Lu-ca 18:22-23
22 Đức Chúa Jesus đã nghe vậy, Ngài đã bảo người: “Ngươi còn thiếu một điều. Hãy bán hết mọi sự mà ngươi có! Hãy phân phát cho những người khó nghèo, thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời; rồi, ngươi hãy đến, theo Ta.”
23 Người đã nghe vậy thì người đã rất buồn rầu, vì người đã rất giàu có.
Ma-thi-ơ gọi đó là một người trẻ, là cách dân I-sơ-ra-ên gọi một người chưa tới 40 tuổi. Mác thì cho biết, Đức Chúa Jesus đã nhìn người ấy và yêu người ấy, khi nghe câu trả lời của người ấy. Tuy nhiên, sự vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời theo hình thức chưa khiến cho một người là trọn vẹn, cho tới khi người ấy cũng có lòng thương xót như Đức Chúa Trời. Lòng thương xót phải được thể hiện thành hành động cứu giúp người khác. Vì thế, Đức Chúa Jesus đã khuyên người ấy bán hết gia tài, phân phát cho những người khó nghèo. Sau đó, người ấy hãy đến với Chúa, vác thập tự giá, theo Chúa.
Sự người ấy thiếu là lòng thương xót đối với những người khó nghèo. Sự thiếu lòng thương xót khiến cho một người giữ trọn các điều răn vẫn chưa được trọn vẹn. Lòng thương xót không phải chỉ là đồng cảm và cứu giúp những người khó nghèo mà còn là tha thứ cho những người xúc phạm mình, làm thiệt hại mình. Lời Chúa dạy cho con dân Chúa như sau:
“Hãy ở với nhau cách nhân từ, dịu dàng, thương xót. Hãy tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ cho các anh chị em trong Đấng Christ vậy.” (Ê-phê-sô 4:32).
“Nếu một người nào có sự gì phàn nàn với người khác thì hãy chịu đựng nhau và tha thứ nhau; như Chúa đã tha thứ các anh chị em thì các anh chị em cũng phải làm như vậy.” (Cô-lô-se 3:13).
Đức Chúa Jesus đã từng khuyên con dân Chúa hãy trở nên trọn vẹn như Đức Chúa Trời:
“Vậy, các ngươi hãy nên trọn vẹn như Cha của các ngươi, Đấng ở trên các tầng trời, là trọn vẹn!” (Ma-thi-ơ 5:48).
Lời khuyên dạy ấy chính là nói đến sự con dân Chúa phải có nếp sống thánh khiết trong sự không vi phạm các điều răn và có lòng thương xót, như Đức Chúa Trời là Đấng hay thương xót (Xuất Ê-díp-tô Ký 22:27).
Lời kêu gọi “vác thập tự giá” là lời kêu gọi chịu khổ và chịu chết vì danh Chúa.
Khi đã nghe lời khuyên và kêu gọi của Đức Chúa Jesus thì người ấy đã buồn rầu trong lòng, vì người ấy đã rất giàu có. Người ấy đã bỏ đi với tâm trạng buồn bực. Không biết người ấy có chào từ giã Đức Chúa Jesus hay không.
Người ấy đã yêu tiền bạc, của cải trong thế gian hơn là yêu Đức Chúa Trời và những người khó nghèo. Người ấy đã yêu tiền bạc, của cải sẽ qua đi hơn là yêu sự sống đời đời mà người ấy muốn có.
Ngày nay, có những người tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ nhưng lại không chịu từ bỏ điều ưa thích nào đó không đẹp lòng Chúa. Hoặc là họ vâng giữ các điều răn nhưng không có lòng thương xót, không thật sự yêu người khác như chính mình.
Có một điều không đẹp lòng Chúa mà phần lớn con dân Chúa đều lâm vấp. Đó là sự kiêu ngạo. Nó thường thể hiện qua sự muốn tìm kiếm sự khen ngợi của loài người và lòng tự ái không đúng. Con dân Chúa cần nhận biết và cậy ơn Chúa để từ bỏ.
Ma-thi-ơ 19:23-24
23 Đức Chúa Jesus đã phán với các môn đồ của Ngài: “Thật, Ta bảo các ngươi rằng, người giàu sẽ khó vào trong Vương Quốc Trời.
24 Ta lại bảo các ngươi, một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
Mác 10:23-25
23 Đức Chúa Jesus đã nhìn quanh, bảo các môn đồ của Ngài: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao.”
24 Các môn đồ đã ngạc nhiên về các lời phán của Ngài. Nhưng Đức Chúa Jesus lại bảo họ rằng: “Hỡi các con trẻ! Khó biết bao cho những kẻ trông cậy nơi sự giàu có để vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
25 Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
Lu-ca 18:24-25
24 Đức Chúa Jesus đã thấy người đã rất buồn rầu thì Ngài đã phán: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao.
25 Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.” {Một số bản dịch ghi là “lạc đà chui qua lỗ kim”. Có thể, trong các bản chép tay tiếng Hy-lạp, chữ “kamelos” nghĩa là “lạc đà” đã bị viết nhầm, thay vì chữ “kamilos” nghĩa là “dây thừng”. Ngoài ra, trong tiếng A-ra-mai, chữ “gamla” vừa có nghĩa là “lạc đà” vừa có nghĩa là “một loại thừng làm bằng lông lạc đà”.}
Đức Chúa Jesus nhìn thấy sự buồn rầu của người ấy, Ngài đã nhìn quanh và có lẽ đã phán câu sau đây: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao.”
Tiếp theo đó, Ngài đã phán với các môn đồ: “Thật, Ta bảo các ngươi rằng, người giàu sẽ khó vào trong Vương Quốc Trời.”
Khi thấy các môn đồ ngạc nhiên, Ngài phán tiếp: “Hỡi các con trẻ! Khó biết bao cho những kẻ trông cậy nơi sự giàu có để vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.”
Danh từ “các con trẻ” trong lời phán thứ ba là danh từ dùng để gọi chung trẻ con. Mặc dù các môn đồ cùng lứa tuổi với Đức Chúa Jesus, thậm chí có người còn lớn hơn Ngài vài tuổi, nhưng Ngài đã dùng cách gọi “các con trẻ”, để thể hiện sự Ngài là Thiên Chúa của họ và họ đã được Ngài ban cho địa vị làm con cái của Thiên Chúa (Giăng 1:12).
Câu “Một sợi thừng đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời” thường được dịch là: “Một con lạc đà đi qua lỗ kim thì dễ hơn một người giàu vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời”.
Như trong phần chú thích đã trình bày, chúng ta thấy, có thể Đức Chúa Jesus đã nói trong tiếng A-ra-mai và Ngài dùng danh từ “gamla” /gám-là/. Danh từ này vừa có nghĩa là con lạc đà, vừa có nghĩa là sợi thừng bện bằng lông lạc đà. Nhưng vì Đức Chúa Jesus nói đến lỗ kim nên chúng ta có thể hiểu là Ngài dùng danh từ đó theo nghĩa dây thừng, là loại dây được bện lại từ nhiều sợi nhỏ. Loại thừng đó có thể dùng để may vá lều trại.
Dù Thánh Kinh không nói đến nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, trong khi Đức Chúa Jesus trò chuyện hay giảng dạy dân chúng và các môn đồ thì Ngài dùng tiếng A-ra-mai. Vì đó là ngôn ngữ chính của dân I-sơ-ra-ên vào thời đó. Chỉ khi nói chuyện với người ngoại quốc, như người đàn bà Ca-na-an, một viên sĩ quan La-mã, và Thống Đốc Phi-lát thì Ngài mới dùng tiếng Hy-lạp.
Khi các tác giả ghi chép dịch câu nói của Đức Chúa Jesus sang tiếng Hy-lạp thì rất có thể đã dịch đúng là “kamilos” /cá-mi-lốp/, dây thừng. Nhưng trong các bản sao chép sau đó thì đã chép nhầm thành “kamelos” /cá-mê-lốp/ (lạc đà). Hai chữ chỉ khác nhau một mẫu tự nên dễ sinh ra sự nhầm lẫn.
Sợi dây thừng được xỏ qua lỗ kim là chuyện có thể làm được, dù có khó khăn. Tương tự như vậy, người giàu vào Vương Quốc Trời thì khó nhưng không phải là không vào được.
Còn lạc đà thì không thể nào đi qua lỗ kim. Đó là chuyện không thể xảy ra. Nếu dùng đó để so sánh với việc người giàu vào Vương Quốc Trời thì không khác nào khẳng định là người giàu thì không thể vào Vương Quốc Trời.
Có một số nhà giải kinh cho rằng, “lỗ kim” là cách gọi một cửa nhỏ gần bên cổng thành. Chiều tối, khi cổng thành đã đóng, thì cửa “lỗ kim” được mở cho những khách du hành đến muộn vào thành. Khách du hành như các đoàn thương buôn có lạc đà thì phải ép cho lạc đà đi qua cửa lỗ kim này một cách khó khăn. Tuy nhiên, không có tài liệu lịch sử hay văn học nào nói đến cửa “lỗ kim” như vậy.
Ma-thi-ơ 19:25-26
25 Các môn đồ của Ngài đã nghe thì đã vô cùng ngạc nhiên, nói rằng: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
26 Đức Chúa Jesus đã nhìn họ và phán với họ: “Với loài người điều này là không thể được, nhưng với Thiên Chúa mọi việc là có thể được.”
Mác 10:26-27
26 Họ đã ngạc nhiên càng hơn, nói với nhau: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
27 Đức Chúa Jesus nhìn họ, phán: “Với loài người là không thể nhưng chẳng vậy với Đức Chúa Trời. Vì với Đức Chúa Trời mọi sự là có thể.”
Lu-ca 18:26-27
26 Những người đã nghe thì đã nói: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
27 Ngài đã phán: “Những sự không có thể với loài người thì có thể với Đức Chúa Trời.”
Khi Đức Chúa Jesus phán hai câu: “Những kẻ có sự giàu có vào trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời là khó biết bao” và “Thật, Ta bảo các ngươi rằng, người giàu sẽ khó vào trong Vương Quốc Trời” thì các môn đồ của Ngài đã ngạc nhiên. Nhưng khi Ngài so sánh sự người giàu vào Vương Quốc Trời với việc dây thừng đi qua lỗ kim thì họ càng ngạc nhiên hơn. Vì thế họ mới nói: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
Có lẽ Mác là người ghi lại sát với lời phán của Đức Chúa Jesus nhất, với chi tiết Đức Chúa Jesus đã nhìn các môn đồ, phán: “Với loài người là không thể nhưng chẳng vậy với Đức Chúa Trời. Vì với Đức Chúa Trời mọi sự là có thể.”
Có lẽ Ma-thi-ơ và Lu-ca đã ghi cách tóm gọn ý nghĩa lời phán của Chúa.
Loài người được dựng nên với nhiều sự giới hạn. Sau khi loài người phạm tội thì sự giới hạn càng thêm lên. Những giới hạn Đức Chúa Trời định ra cho loài người nhằm hạn chế sự phạm tội của họ. Có rất nhiều điều loài người không thể làm được nhưng Đức Chúa Trời làm được. Vì Ngài là Thiên Chúa Toàn Năng, làm được bất cứ sự gì Ngài muốn làm. Cũng có rất nhiều điều loài người không thể làm được, nhưng nếu được sự ban ơn, thêm sức của Đức Chúa Trời thì loài người có thể làm được.
Một ngày kia, trong Vương Quốc Trời, loài người sẽ làm được rất nhiều điều vượt qua mọi giới hạn vật lý hiện nay.
Dù những người giàu vào Vương Quốc Trời rất khó, vì lòng tham tiền bạc, của cải vật chất nhưng với sự ban ơn, thêm sức của Đức Chúa Trời thì họ vẫn có thể vào được Vương Quốc Trời.
Không phải sự giàu có khiến cho một người khó vào Vương Quốc Trời nhưng lòng tham và sự thiếu lòng thương xót khiến cho họ khó vào.
Ma-thi-ơ 19:27-29
27 Phi-e-rơ đã đáp lời, thưa với Ngài: “Này, chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo Ngài. Vậy, chúng tôi sẽ ra sao?”
28 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Thật, Ta nói với các ngươi rằng, các ngươi, những người đã theo Ta, trong kỳ đổi mới, khi Con Người sẽ ngự trên ngai vinh quang của Ngài, thì các ngươi cũng sẽ ngồi trên mười hai ngai mà phán xét mười hai chi phái I-sơ-ra-ên.
29 Bất cứ ai vì danh Ta mà bỏ các nhà cửa, hoặc các anh em ruột, hoặc các chị em ruột, hoặc cha, hoặc mẹ, hoặc vợ, hoặc con cái, hoặc đất ruộng, thì sẽ nhận gấp trăm lần và sẽ hưởng sự sống vĩnh cửu.
Mác 10:28-30
28 Phi-e-rơ đã khởi thưa với Ngài: “Này, chúng tôi đã bỏ hết mà theo Ngài.”
29 Đức Chúa Jesus đã đáp lời, phán: “Thật, Ta bảo các ngươi, không ai vì Ta và Tin Lành, đã từ bỏ nhà cửa, hoặc các anh em ruột, hoặc các chị em ruột, hoặc cha, hoặc mẹ, hoặc vợ, hoặc con cái, hoặc đất ruộng,
30 mà người ấy chẳng nhận được trăm lần hơn ngay bây giờ, trong lúc này, về những nhà cửa, các anh em ruột, các chị em ruột, các mẹ, con cái, đất ruộng, với sự bách hại; và trong đời sẽ đến, sự sống vĩnh cửu.
Lu-ca 18:28-30
28 Phi-e-rơ đã thưa: “Này, chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo Ngài.”
29 Ngài đã bảo họ: “Thật, Ta bảo các ngươi, không người nào vì cớ Vương Quốc của Đức Chúa Trời từ bỏ cha mẹ, các anh em ruột, vợ, con,
30 mà người ấy không được nhận nhiều hơn trong đời này và sự sống vĩnh cửu trong đời sẽ đến.
Sứ Đồ Phi-e-rơ như là người phát ngôn cho các môn đồ. Ông thường nói trước mọi người và nói thay cho mọi người. Khi nghe Chúa phán dạy về sự từ bỏ mọi sự, vác thập tự giá theo Chúa, Phi-e-rơ đã hỏi Chúa, ông và các bạn đã bỏ mọi sự để theo Ngài thì ông và họ sẽ ra thế nào.
Đức Chúa Jesus đã khẳng định, mười hai sứ đồ của Ngài sẽ ngồi trên ngai để phán xét mười hai chi phái I-sơ-ra-ên. Về sau, trong khải tượng về Thành Thánh Giê-ru-sa-lem từ trời giáng xuống trên đất mới, Sứ Đồ Giăng đã thấy tên của mười hai sứ đồ trên mười hai nền của thành (Khải Huyền 21:14).
“Kỳ đổi mới” bắt đầu với thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm và kéo dài vào trong thời kỳ Vương Quốc Đời Đời. Ma-thi-ơ 19:28 hàm ý, mười hai sứ đồ của Chúa sẽ cùng Ngài cai trị vương quốc I-sơ-ra-ên, trong thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm.
Sự từ bỏ người thân để đi theo Chúa không phải là không còn nhận họ là người thân nữa, mà là từ biệt họ để theo Chúa trọn thời gian, làm các sứ đồ của Ngài. Điều ấy tương tự như một người từ biệt gia đình, lên đường ra chiến trường làm lính chiến để bảo vệ đất nước, trước sự tấn công của quân ngoại xâm.
Thành ngữ “nhận gấp trăm lần” không có nghĩa đen là nhận đúng một trăm lần hơn mà chỉ có nghĩa là nhận rất nhiều lần hơn.
Ngay trong đời này, các sứ đồ của Chúa đã nhận lại được nhiều lần hơn, khi đi tới đâu họ cũng được nhiều người tiếp đón họ vào nhà, như đó là nhà của họ. Họ được nhiều người đối xử với họ như những anh chị em ruột, mẹ, và con cái của họ.
Sự giàu có, vinh quang, quyền thế trong đời sau của những người bỏ hết mọi sự, đi theo Chúa là điều chắc chắn. Tuy nhiên, ngay trong đời này, họ cũng nhận lấy những sự bách hại trên bước đường theo Chúa và phụng sự Ngài. Thậm chí, phần lớn họ chịu chết vì danh Ngài.
Ma-thi-ơ 19:30
30 Nhưng nhiều người đầu sẽ nên sau cùng và những người sau cùng sẽ nên đầu.”
Mác 10:31
31 Nhưng nhiều người đầu sẽ nên sau cùng và những người sau cùng sẽ nên đầu.”
“Nhiều người đầu” là nhiều người theo Chúa trước những người khác, phụng sự Chúa trước những người khác, có nhiều cơ hội để lập được nhiều thành tích trong những mục vụ và linh vụ.
“Sẽ nên sau cùng” là sẽ trở nên người nhận ít phần thưởng hoặc không có phần thưởng trong ngày Đấng Christ đến. Vì những việc làm của họ không xuất phát từ lòng yêu Chúa, yêu người. Những việc làm của họ chỉ làm cho có làm hoặc làm để tìm sự khen ngợi của loài người.
“Những người sau cùng” là những người tin Chúa muộn trong đời sống của họ hoặc trong những ngày cuối cùng của thời kỳ Hội Thánh. Họ không có nhiều cơ hội để phụng sự Chúa, không có nhiều cơ hội để lập nhiều thành tích.
“Sẽ nên đầu” là trở nên những người đứng đầu vì nhận được nhiều phần thưởng trong ngày Đấng Christ đến. Vì những việc làm của họ dù ít nhưng xuất phát từ lòng yêu Chúa, yêu người. Họ làm vì sự vinh quang của Thiên Chúa. Họ không tìm kiếm sự vinh quang cho bản thân.
Nguyện rằng, mỗi một chúng ta đều thuộc về những người đầu trong ngày Đấng Christ đến.
Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.
Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
21/06/2025
Ghi Chú
Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.
Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.
[1] https://timhieuthanhkinh.com/danh-xung-muc-su-va-reverend/
Karaoke Thánh Ca: “Linh Hồn Con Thỏa Vui Trong Ngài”:
Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.
Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.
Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:






Users Today : 50
Users Yesterday : 94
Users This Year : 6819
Total Users : 2809930
Views Today : 136
Total views : 4481849
Who's Online : 2