Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL139 Ngụ Ngôn về Mười Nữ Đồng Trinh

166 views

YouTube: https://youtu.be/_YX3_dMQ9Yo

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL139 Ngụ Ngôn về Mười Nữ Đồng Trinh
Ma-thi-ơ 25:1-13

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 25:1-13

1 Khi ấy, Vương Quốc Trời sẽ được so sánh với mười nữ đồng trinh, những người đã cầm đèn của mình đi đón chàng rể.

2 Năm người trong số họ là dại và năm người là khôn sáng.

3 Vì các người dại đã cầm đèn của họ đi mà không đem theo dầu với mình.

4 Nhưng các người khôn sáng đã đem dầu trong các bình, cùng các đèn của mình.

5 Nhưng chàng rể đến trễ, hết thảy họ đã buồn ngủ và ngủ.

6 Giữa đêm, có tiếng kêu: ‘Kìa, chàng rể! Hãy đi ra đón người!’

7 Bấy giờ, hết thảy các nữ đồng trinh ấy đã thức dậy, sửa soạn các đèn của mình.

8 Các người dại đã nói với các người khôn sáng: ‘Xin cho chúng tôi dầu của các chị, vì đèn của chúng tôi gần tắt.’

9 Nhưng các người khôn sáng đã trả lời rằng: ‘Không, kẻo chẳng đủ cho chúng tôi và các chị; thà các chị hãy đi đến những người bán dầu và mua cho mình.’

10 Nhưng trong khi họ đang đi mua thì chàng rể đã đến; những ai sẵn sàng thì đã đi với người vào tiệc cưới; và cửa đã được đóng lại.

11 Sau đó, các nữ đồng trinh khác cũng đến và nói: ‘Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cửa cho chúng tôi!

12 Nhưng người đã đáp rằng: ‘Thật, ta nói với các ngươi, ta không biết các ngươi.’

13 Vậy, hãy canh chừng! Vì các ngươi không biết ngày và giờ mà Con Người đến.

Trước khi cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của từng câu trong Ma-thi-ơ 25:1-13, chúng ta cần khẳng định một điều căn bản về mặt giải kinh. Đó là các ngụ ngôn và lời tiên tri trong Ma-thi-ơ 25 không phải là lời dạy dỗ trực tiếp cho Hội Thánh trong thời đại hiện tại, nhưng là lời tiên tri mô tả các sự kiện sẽ xảy ra, sau khi Đấng Christ tái lâm trên đất.

Toàn bộ Ma-thi-ơ 24–25, thường được gọi là Bài Giảng Trên Núi Ô-li-ve, là lời Đức Chúa Jesus trả lời câu hỏi của các môn đồ: “Xin nói cho chúng tôi biết khi nào các sự đó sẽ xảy ra? Và có dấu lạ gì về sự đến của Ngài và sự tận thế?” (Ma-thi-ơ 24:3). Câu hỏi này mang nặng tính Do-thái Giáo, gắn liền với kỳ vọng về Đấng Mê-si-a của dân I-sơ-ra-ên. Đức Chúa Jesus không phán những lời ấy cho Hội Thánh, vì Hội Thánh — với tư cách là thân thể của Đấng Christ gồm người I-sơ-ra-ên và người thuộc các dân tộc khác được cứu bởi ân điển và đức tin — chưa được bày tỏ một cách trọn vẹn trong thời gian Ngài còn ở trên đất. Ngài đang phán với các môn đồ người I-sơ-ra-ên, và qua họ, với dân I-sơ-ra-ên trong thời kỳ cuối cùng.

Theo quan điểm Thần học tin rằng Hội Thánh sẽ được Đấng Christ cất ra khỏi thế gian, trước Kỳ Tận Thế, thì dòng thời gian của những ngày sau cùng sẽ diễn ra như sau:

  • Hội Thánh được cất lên: Đấng Christ đến trong chốn không trung, cất Hội Thánh ra khỏi thế gian (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17; I Cô-rinh-tô 15:51-52).
  • Kỳ Tận Thế, bao gồm bảy năm đại nạn: Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống trên thế gian; AntiChrist nổi lên, ký hòa ước với I-sơ-ra-ên rồi phá vỡ nó, đem quân tấn công I-sơ-ra-ên (Khải Huyền 6-18).
  • Lễ Cưới Chiên Con trên thiên đàng: Trong khi Kỳ Tận Thế xảy ra trên đất thì Hội Thánh đã ở trong lễ cưới cùng Đấng Christ (Khải Huyền 19:7-9).
  • Sự tái lâm của Đấng Christ trên đất: Vào cuối Kỳ Tận Thế, Đấng Christ trở lại trên đất cùng với Hội Thánh, đánh bại AntiChrist và tiêu diệt những kẻ mang dấu của nó, nhốt Sa-tan vào vực sâu trong âm phủ (Khải Huyền 19:11-21).
  • Sự phán xét và thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm: Các biến cố trong Ma-thi-ơ 25 xảy ra sau khi Đấng Christ kết thúc Kỳ Tận Thế. Ngài phán xét những người tin Chúa còn sống sau Kỳ Tận Thế, trong đó có dân I-sơ-ra-ên.

Chính trong khoảng thời gian này, sau khi Đấng Christ tái lâm và trước khi Vương Quốc Ngàn Năm được chính thức khai mở, ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh tìm thấy sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó.

Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt rõ: giá trị đạo đức và thuộc linh của ngụ ngôn này vượt khỏi ranh giới thời đại. Sự khôn sáng hay dại dột trong việc chuẩn bị đời sống thuộc linh — đặc biệt là thái độ đối với Lời Chúa — là bài học muôn đời dành cho con dân Chúa trong mọi thế hệ, bao gồm cả Hội Thánh hôm nay. Chúng ta không phải là đối tượng chính của ngụ ngôn, nhưng chúng ta có thể học từ nó bài học về sự sẵn sàng và lòng trung tín.

Chúng ta cũng cần thiết lập nền tảng giải kinh quan trọng nhất: “dầu” trong ngụ ngôn này tiêu biểu cho Lời Chúa, không phải là “thánh linh” hay “Đức Thánh Linh” như nhiều người thường giải thích.

Lý do Thần học để bác bỏ cách giải thích như vậy là rõ ràng: không ai có thể mua bán thánh linh hay Đức Thánh Linh. Khi Thuật Sĩ Si-môn tìm cách mua ân tứ của Đức Thánh Linh bằng tiền bạc, Sứ Đồ Phi-e-rơ đã quở trách ông cách nghiêm khắc:

“Tiền của ngươi nên vào trong sự hư mất với ngươi, vì ngươi tưởng rằng sự ban cho của Đức Chúa Trời có thể mua được bằng tiền.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:20).

Nhưng trong ngụ ngôn, Đức Chúa Jesus nói đến việc “đi mua dầu” — điều này chứng tỏ dầu không thể là thánh linh hay Đức Thánh Linh. Nếu không, lời phán của Đức Chúa Jesus sẽ mâu thuẫn trực tiếp với lời của Phi-e-rơ. Nhưng Thánh Kinh không hề mâu thuẫn với chính nó.

Ngược lại, Lời Chúa được hàm ý là dầu thắp sáng đèn một cách rõ ràng và nhất quán xuyên suốt Cựu Ước:

1. “Lời Ngài là ngọn đèn cho chân tôi và ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi Thiên 119:105). Đây là câu Thánh Kinh nền tảng nhất liên hệ giữa Lời Chúa và ánh sáng. Nếu Lời Chúa được gọi là ngọn đèn, thì điều nuôi dưỡng ngọn lửa của ngọn đèn ấy — tức là dầu — không thể là điều gì khác ngoài chính Lời Chúa được tiếp nhận, suy ngẫm, và cất giữ trong lòng. Một ngọn đèn không thể tự nuôi mình; nó cần dầu. Tương tự, Lời Chúa với tư cách là “ngọn đèn” cần được “dầu” là chính Lời ấy thấm nhuần vào đời sống thì mới phát sáng bền bỉ.

2. “Vì đèn là điều răn và luật pháp là ánh sáng, còn con đường sự sống là những sự khiển trách của kỷ luật” (Châm Ngôn 6:23). Ở đây, sự đồng nhất giữa điều răn và luật pháp — đèn và ánh sáng được thiết lập một cách trực tiếp. Điều răn và luật pháp đều là Lời Chúa. Điều răn thể hiện luật pháp nên điều răn là đèn và luật pháp là ánh sáng. Như vậy, Lời Chúa không chỉ là đèn — nó vừa là đèn vừa là ánh sáng; và Lời Chúa cũng chính là “dầu” để duy trì sự sáng ấy.

Từ nền tảng ấy, chúng ta có thể thiết lập các tương ứng biểu tượng như sau:

  • Đèn là đời sống thuộc linh của người tin kính Chúa — ánh sáng là lời nói và việc làm của họ thể hiện lẽ thật của Lời Chúa trước mặt người đời.
  • Dầu là Lời Chúa nuôi sống ánh sáng của đời sống ấy.
  • Dầu trong đèn là Lời Chúa trong Cựu Ước, là nền tảng đức tin của những người I-sơ-ra-ên tin kính Đức Chúa Trời, tức là phần Lời Chúa đang được thể hiện trong đời sống hằng ngày của họ. Họ vâng giữ trọn vẹn các điều răn của Đức Chúa Trời.
  • Dầu trong bình là Lời Chúa trong Tân Ước, là sự mạc khải trọn vẹn hơn về Đấng Mê-si-a qua các sách Tin Lành và các Thư Tín, được cất giữ trong lòng như một nguồn dự trữ cho lúc cần đến. Là khi họ tuyên xưng ơn cứu rỗi nhận được bởi sự chết chuộc tội của Đấng Christ.

Sự phân biệt giữa “dầu trong đèn” và “dầu trong bình” sẽ được làm sáng tỏ hơn, khi chúng ta đi vào chú giải chi tiết từng câu trong phần tiếp theo.

Ma-thi-ơ 25:1-2

1 Khi ấy, Vương Quốc Trời sẽ được so sánh với mười nữ đồng trinh, những người đã cầm đèn của mình đi đón chàng rể.

2 Năm người trong số họ là dại và năm người là khôn sáng.

Hai chữ đầu tiên “khi ấy” là chiếc chìa khóa giải kinh mà nhiều người đã bỏ qua. Trong tiếng Hy Lạp, trạng từ “khi ấy” có nghĩa là “vào lúc đó, tại thời điểm đó.” Đức Chúa Jesus không nói “bây giờ” hay “luôn luôn” — Ngài nói “khi ấy”, tức là vào một thời điểm cụ thể trong tương lai.

Thời điểm đó là gì? Là thời điểm vừa được mô tả ở cuối chương 24: khi Con Người đến trong quyền năng và vinh hiển, khi các thiên sứ được sai đi thu nhóm những người được chọn từ bốn phương (Ma-thi-ơ 24:30-31), khi tất cả các dân tộc trên đất sẽ than khóc vì thấy Ngài (Ma-thi-ơ 24:30). Nói cách khác, “khi ấy” chỉ về thời điểm sau sự tái lâm của Đấng Christ trên đất, trước khi Ngài thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm.

“Vương Quốc Trời sẽ được so sánh”: Đây là ngôn ngữ của sự so sánh tiên tri. Đức Chúa Jesus không mô tả Vương Quốc Trời là đang như thế trong thời điểm Ngài nói chuyện với các môn đồ. Ngài mô tả Vương Quốc Trời sẽ được so sánh với điều sắp xảy ra. Động từ ở thì tương lai chỉ về một cảnh tượng chưa xảy ra, nhưng chắc chắn sẽ xảy ra.

“Mười nữ đồng trinh”: Con số mười trong văn hóa I-sơ-ra-ên thường biểu thị sự trọn vẹn của một cộng đồng. Trong luật I-sơ-ra-ên (minyan), cần ít nhất mười người trưởng thành mới được tiến hành một buổi thờ phượng công cộng. Mười nữ đồng trinh trong ngụ ngôn đại diện cho toàn bộ cộng đồng người I-sơ-ra-ên tin kính Đức Chúa Trời còn sống sót sau Kỳ Tận Thế. Họ là những người đã không nhận dấu của AntiChrist, đã trốn chạy vào đồng vắng (Khải Huyền 12:6, 14), và đang chờ đợi sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a, tức Đấng Christ.

Tại sao là nữ đồng trinh chứ không phải là đàn ông hay phụ nữ đã có chồng? Trong Thánh Kinh, hình ảnh trinh nữ thường được dùng để chỉ dân I-sơ-ra-ên trong sự thuần khiết của giao ước với Đức Chúa Trời. Tiên Tri A-mốt đã khóc:

“Nữ đồng trinh của I-sơ-ra-ên đã ngã xuống, sẽ không dậy nữa. Nó đã bị ném bỏ trên đất của nó mà không ai đỡ nó dậy.” (A-mốt 5:2).

Ê-sai đã gọi Giê-ru-sa-lem là “Trinh nữ Si-ôn” (Ê-sai 37:22).

Hình ảnh này nói lên địa vị giao ước của I-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời. Họ là những người đã biết Ngài, được Ngài thánh hóa, đã ở trong mối quan hệ với Ngài, đã chờ đợi Đấng Mê-si-a của mình.

Hơn nữa, ngụ ngôn này khắc họa một phong tục cưới xin I-sơ-ra-ên cổ điển. Trong truyền thống hôn lễ của người I-sơ-ra-ên vào thế kỷ thứ nhất, các bạn gái của cô dâu sẽ chờ đón chàng rể đến rước cô dâu về nhà mình. Cuộc rước này thường xảy ra vào ban đêm, với đoàn người cầm đèn đuốc để tạo nên lễ rước vinh quang. Người nghe ngụ ngôn này lập tức hiểu rằng đây là đêm của tiệc cưới, và những người nữ này có nhiệm vụ thiêng liêng là đón rước chàng rể.

Chàng rể là ai? Trong Thần học Do-thái Giáo, hình ảnh Đức Chúa Trời như người chồng và I-sơ-ra-ên như người vợ là một ẩn dụ giao ước trung tâm. “Vì Đấng Tạo Thành của ngươi là chồng của ngươi. Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Vạn Quân là danh của Ngài…” (Ê-sai 54:5). Ô-sê đã dùng hình ảnh hôn nhân để mô tả giao ước giữa Đức Chúa Trời và I-sơ-ra-ên (Ô-sê 2:16-20). Nhưng trong Tân Ước, chàng rể được xác định rõ ràng là Đức Chúa Jesus Christ (Giăng 3:29; Khải Huyền 19:7).

Tuy nhiên, cần phân biệt: Lễ Cưới Chiên Con đã xảy ra trên thiên đàng trong thời kỳ Đại Nạn (Khải Huyền 19:7-9), khi Hội Thánh — Cô Dâu — được đoàn tụ với Đấng Christ. Sau đó, Đức Chúa Jesus trở lại trên đất (Khải Huyền 19:11-16). Tiệc Cưới được đề cập trong ngụ ngôn Ma-thi-ơ 25 là sự ăn mừng trên đất, khi Đấng Christ đã tái lâm và dân I-sơ-ra-ên trung tín được dự vào sự vui mừng của Vương Quốc Ngàn Năm cùng với Hội Thánh là Cô Dâu đã từ trời xuống. Đây là ứng nghiệm của lời tiên tri trong Ê-sai:

“Và trên núi này, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Vạn Quân dọn cho mọi dân tộc, một tiệc những đồ béo, một tiệc rượu ngon, của những đồ béo đầy chất tủy, của rượu ngon tinh lọc.” (Ê-sai 25:6).

“Năm người trong số họ là dại và năm người là khôn sáng”: con số bằng nhau này không phải là ngẫu nhiên. Đức Chúa Jesus không nói rằng đa số là dại hay đa số là khôn. Sự phân chia ngang bằng này cho thấy rằng trong dân I-sơ-ra-ên còn sống sau Kỳ Tận Thế sẽ có hai loại người: những người đã chuẩn bị trọn vẹn và những người đã không chuẩn bị đầy đủ. Sự phân chia này không nhất thiết rõ ràng từ bên ngoài, cho tới khoảnh khắc quyết định.

Ma-thi-ơ 25:3-4

3 Vì các người dại đã cầm đèn của họ đi mà không đem theo dầu với mình.

4 Nhưng các người khôn sáng đã đem dầu trong các bình, cùng các đèn của mình.

Đây là trái tim của toàn bộ ngụ ngôn và cũng là nơi sự giải thích về “dầu” trở nên quyết định. Mọi sự khác biệt giữa khôn và dại đều tập trung vào một điểm: người khôn có dầu dự trữ còn người dại thì không.

Hãy chú ý một điều: tất cả mười người đều có đèn. Cả người dại lẫn người khôn đều cầm đèn mà đi. Không ai trong số họ đến tay không.

Điều này có nghĩa là gì? Tất cả mười người đều có đời sống thuộc linh nhìn thấy được từ bên ngoài. Họ đều là các nữ đồng trinh thuộc cộng đồng giao ước, đều vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, đều biết về Đấng Mê-si-a, đều đang trông chờ Ngài. Từ góc độ quan sát bên ngoài, không có sự khác biệt nào giữa họ cả.

Nhưng sự khác biệt nằm ở chỗ ít ai thấy được: bình dầu dự trữ.

Dầu trong đèn là Lời Chúa trong Cựu Ước, nền tảng đức tin của người I-sơ-ra-ên tin kính Đức Chúa Trời.

Cả mười người đều có dầu trong đèn khi họ xuất phát. Điều này phù hợp với thực tế rằng họ tiêu biểu cho dân I-sơ-ra-ên còn sống sau Kỳ Tận Thế. Họ đều biết Thánh Kinh Cựu Ước, đều biết về lời tiên tri của Đấng Mê-si-a, đều biết về giao ước của Đức Chúa Trời với I-sơ-ra-ên.

Nhớ lại lời tiên tri trong Ê-sai 8:20: “Hãy theo luật pháp và chứng cớ!” Đây là tiêu chuẩn để nhận biết người thật sự thuộc về Đức Chúa Trời. Cả mười người đều giữ tiêu chuẩn tối thiểu này: họ có đèn, họ có đời sống thuộc linh được soi sáng bởi Lời Chúa trong Cựu Ước.

Dầu trong bình là Lời Chúa trong Tân Ước: các sách Tin Lành, các Thư Tín, và đặc biệt là sách Khải Huyền.

Năm người khôn đã không chỉ có Thánh Kinh Cựu Ước, họ còn tiếp nhận và lưu trữ trong lòng sự mạc khải đầy đủ hơn, qua Thánh Kinh Tân Ước. Họ đã nhận ra Jesus người Na-xa-rét là Đấng Mê-si-a được hứa ban, đã tin nhận Ngài và Lời Ngài, đã giữ Lời ấy như vàng ròng trong bình quý.

Tại sao điều này đặc biệt quan trọng cho dân I-sơ-ra-ên vào Kỳ Tận Thế? Vì trong thời kỳ ấy, đặc biệt là trong ba năm rưỡi cuối, AntiChrist sẽ cấm đoán việc thờ phượng Đức Chúa Trời và tiêu hủy Thánh Kinh. Những người không có Lời Chúa đã khắc sâu vào lòng sẽ không có nguồn sáng nội tâm để duy trì đức tin của mình, qua đêm tối dài ấy. Chỉ những ai đã dự trữ trọn vẹn Lời Chúa trong lòng — cả Cựu Ước lẫn Tân Ước — mới có thể giữ ngọn đèn đức tin cháy sáng.

Hình ảnh “bình” trong Thánh Kinh thường dùng để chỉ con người, tấm lòng, hay linh hồn. Phao-lô viết: “Nhưng chúng tôi có của báu này trong những chậu bằng đất” (II Cô-rinh-tô 4:7). Châm Ngôn 4:23 khuyên: “Hãy hết sức cẩn thận canh giữ tấm lòng của con, vì những sự tuôn trào của sự sống ra từ nó.”

Bình là tấm lòng; dầu trong bình là Lời Chúa được lưu trữ và ấp ủ trong tấm lòng ấy. Năm người khôn không chỉ thể hiện Lời Chúa qua nếp sống, họ còn có Lời Chúa trong lòng. Năm người dại thể hiện Lời Chúa qua nếp sống, nhưng lòng họ trống rỗng.

Đây là sự tương phản đau lòng: Năm người dại có đèn nhưng không có dầu dự trữ trong bình. Họ làm theo điều răn và luật pháp theo Cựu Ước, nhưng không có sự mạc khải Tân Ước trong lòng. Họ biết về một Đấng Mê-si-a sẽ đến, nhưng họ chưa tiếp nhận sự mạc khải đầy đủ rằng Đấng Mê-si-a ấy chính là Đức Chúa Jesus Christ, Đấng đã đến lần thứ nhất và sẽ đến lần thứ nhì. Họ đang đón chờ Ngài, nhưng sự hiểu biết của họ về Ngài còn phiến diện.

Sự khác biệt giữa người khôn và người dại không phải là sự khác biệt giữa người tin và kẻ vô thần, cũng không phải giữa người tốt và kẻ xấu. Đây là sự khác biệt giữa đức tin trọn vẹn và đức tin không trọn vẹn — giữa người đã tiếp nhận trọn vẹn Lời Chúa và người chỉ giữ một phần.

Ma-thi-ơ 25:5-7

5 Nhưng chàng rể đến trễ, hết thảy họ đã buồn ngủ và ngủ.

6 Giữa đêm, có tiếng kêu: ‘Kìa, chàng rể! Hãy đi ra đón người!’

7 Bấy giờ, hết thảy các nữ đồng trinh ấy đã thức dậy, sửa soạn các đèn của mình.

“Chàng rể đến trễ”: đây là một trong các chi tiết được chọn lựa cẩn thận nhất trong ngụ ngôn.

Từ quan điểm của loài người, sự chờ đợi Đấng Christ tái lâm đã kéo dài gần hai ngàn năm. Từ quan điểm của dân I-sơ-ra-ên trong Kỳ Tận Thế, bảy năm chịu đựng AntiChrist và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời là một thời gian dài khủng khiếp. Sự “đến trễ” của chàng rể không phải là lỗi của chàng mà là sự thử thách được thiết kế để phân biệt những ai thật sự trọn lòng chờ đợi với những ai chỉ theo đám đông.

Tiên Tri Ha-ba-cúc đã từng trải qua cảm giác này:

“Vì khải tượng còn phải ứng nghiệm trong kỳ đã định, sau cùng nó sẽ đến nhanh, không lừa dối đâu. Nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi! Bởi nó chắc sẽ đến, không chậm trễ.” (Ha-ba-cúc 2:3).

Và Sứ Đồ Phi-e-rơ cũng nhắc nhở:

“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như một số người tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng khoan nhẫn đối với chúng ta, không muốn cho một người nào chết mất, nhưng muốn cho mọi người đều ăn năn.” (II Phi-e-rơ 3:9).

Sự “đến trễ” của chàng rể thử thách lòng kiên nhẫn và sự chuẩn bị.

“Hết thảy họ đã buồn ngủ và ngủ”: Đây là một chi tiết đáng chú ý. Cả mười người đều ngủ. Không phải chỉ năm người dại mới ngủ. Cả năm người khôn cũng ngủ.

Điều này có nghĩa là việc ngủ trong ngụ ngôn này không phải là tội lỗi hay sự thiếu trách nhiệm. Đây chỉ đơn giản là thực tế của sự sống loài người, là phản ứng tự nhiên — không ai có thể thức suốt đêm vô tận. Điều phân biệt người khôn và người dại không phải là họ có ngủ hay không, mà là họ đã chuẩn bị trước khi ngủ như thế nào.

Giấc ngủ tượng trưng cho sự tạm thời quên đi sự trông ngóng Chúa, vì những lo toan, bận rộn thực tế trong đời sống, nhất là trong bối cảnh Kỳ Tận Thế. Không ai có thể giữ sự tỉnh thức 100% thời gian. Cả người khôn lẫn người dại đều có những lúc uể oải, mệt mỏi, hoặc xao lãng trong đời sống tâm linh. Điều đó không tự động loại họ ra khỏi Vương Quốc Trời.

Điều quyết định là sự chuẩn bị trước khi cơn buồn ngủ ập đến. Người khôn đã “mua” dầu từ trước – họ đã đầu tư thời gian, công sức, sự hy sinh để cất giữ Lời Chúa trong lòng. Người dại thì không.

Đèn vẫn sáng trong khi ngủ, nhưng rồi sẽ tắt nếu không có dầu dự trữ. Đời sống bên ngoài (nhóm hiệp thờ phượng Chúa, làm việc lành) có thể vẫn ổn trong một thời gian, nhưng nếu không có nguồn dự trữ Lời Chúa bên trong, nó sẽ không thể trụ được trong cơn thử thách lớn hoặc giờ Chúa đến.

Đây là một nguyên lý tâm linh sâu sắc: bề ngoài có thể trông ổn trong một thời gian dài, nhưng khi thử thách đến, những gì bên trong mới thật sự quyết định.

“Giữa đêm”: Khoảnh khắc tối tăm nhất, bất ngờ nhất. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:29, đêm Vượt Qua cũng xảy ra “lúc nửa đêm.” Đức Chúa Trời hành động trong bóng tối, khi loài người ít ngờ nhất. Đây là thời điểm mà mọi sự chuẩn bị — hoặc thiếu chuẩn bị — đều bị phơi bày.

“Có tiếng kêu: ‘Kìa, chàng rể!'”: Tiếng kêu giữa đêm này là thông báo khẩn cấp không thể bỏ qua. Trong truyền thống I-sơ-ra-ên, tiếng kêu báo hiệu sự xuất hiện của chàng rể là một trong những khoảnh khắc vui mừng nhất. Nhưng ở đây, tiếng kêu giữa đêm tạo ra sự căng thẳng — đây không phải là thời điểm loài người chuẩn bị, đây là thời điểm loài người bộc lộ sự chuẩn bị của mình.

“Hết thảy các nữ đồng trinh ấy đã thức dậy, sửa soạn các đèn của mình”: Tiếng kêu đánh thức tất cả mà không phân biệt. Người khôn và người dại đều thức dậy như nhau, đều bắt đầu sửa soạn đèn của mình như nhau.

Chỉ đến lúc này — khi đèn cần được cháy sáng trọn vẹn — thì sự thiếu hụt dầu của người dại mới được phát hiện. Đây là thời điểm Đấng Christ tái lâm và dân I-sơ-ra-ên phải đứng trước mặt Ngài — không ai có thể giả vờ, không ai có thể vay mượn đức tin của người khác.

Ma-thi-ơ 25:8-9

8 Các người dại đã nói với các người khôn sáng: ‘Xin cho chúng tôi dầu của các chị, vì đèn của chúng tôi gần tắt.’

9 Nhưng các người khôn sáng đã trả lời rằng: ‘Không, kẻo chẳng đủ cho chúng tôi và các chị; thà các chị hãy đi đến những người bán dầu và mua cho mình.’

Đây là đoạn bị hiểu lầm nhiều nhất trong toàn bộ ngụ ngôn. Nhiều người đọc đoạn này và cho rằng năm người khôn đã ích kỷ, thiếu cảm thông, khi từ chối chia xẻ dầu. Nhưng câu trả lời của họ không phải là từ chối vì lòng ích kỷ. Đây là một sự thật Thần học không thể thay đổi: Lời Chúa đã được sống trong đời sống của một người không thể chuyển nhượng sang người khác.

Hãy suy nghĩ về điều này:

  • Nếu “dầu” là tiền bạc hay tài sản vật chất, người ta có thể chia xẻ.
  • Nếu “dầu” là tri thức thuần túy, người ta có thể truyền đạt trong vài phút.
  • Nhưng nếu “dầu” là Lời Chúa được suy ngẫm, tiêu hóa, và sống trong suốt nhiều năm — thì đây là thứ không thể chia sẻ hay chia xẻ trong khoảnh khắc. Đây là kết quả của cả cuộc đời trung tín.

Thi Thiên 119:11 nói: “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa.” Lời Chúa phải được giấu trong lòng — đây là tiến trình dài, không phải là hành động tức thời. Không ai có thể tặng trải nghiệm suy ngẫm Lời Chúa của mình cho người khác, giống như không ai có thể ăn thay cho người khác.

“Đèn của chúng tôi gần tắt”: Đây là lời thú nhận đau đớn. Trong tiếng Hy Lạp, động từ “gần tắt” có nghĩa là đang tắt dần, đang lụi tàn. Dầu trong đèn của họ — Lời Chúa trong Cựu Ước — đã cạn kiệt sau suốt thời gian dài chờ đợi trong Kỳ Tận Thế. Họ đã không có nguồn dự trữ để duy trì ngọn lửa. Họ đã không có Lời Chúa để thể hiện đức tin của họ vào sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

Đây là hình ảnh của những người I-sơ-ra-ên đã biết Đức Chúa Trời theo cách truyền thống — qua lễ nghi, qua truyền thống dân tộc, qua sự giáo dục trong các nhà hội — nhưng chưa thật sự đào sâu vào sự hiểu biết cá nhân về Lời Ngài. Họ đã có đèn và một phần dầu — nhưng chưa bao giờ tích lũy đủ dầu.

“Không, kẻo chẳng đủ cho chúng tôi và các chị”: Câu trả lời của các người khôn không phải là sự lạnh lùng mà là sự thật.

  • Đức tin cá nhân là không thể chia xẻ.
  • Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa qua Lời Ngài không thể chuyển nhượng.
  • Thậm chí nếu người khôn muốn chia xẻ kinh nghiệm sống Lời Chúa của mình, họ cũng không thể — vì không thể lấy Lời Chúa đã được sống trong lòng người này đặt vào lòng người kia.

Đây là nguyên tắc Ê-xê-chi-ên 14:14 đã xác lập:

“”Dẫu có ba người này trong nó: Nô-ê, Đa-ni-ên, và Gióp, họ cũng chỉ cứu được linh hồn mình bởi sự công chính mình.” Chúa Tự Hữu Hằng Hữu phán.”

Ngay cả người công chính nhất cũng không thể chia xẻ sự công chính của mình cho người khác.

“Thà các chị hãy đi đến những người bán dầu và mua cho mình”: đây là lời khuyên thực tế nhưng cũng mang tính mỉa mai bi thương.

Các người khôn không phủ nhận rằng dầu có thể mua được. Dầu có thể mua — điều này khẳng định rằng dầu không phải là thánh linh hay Đức Thánh Linh, vì thánh linh và Đức Thánh Linh không thể mua bán (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:20). Dầu là Lời Chúa — và Lời Chúa có thể “mua” được, theo nghĩa là bỏ ra thời gian, công sức, và của cải để đọc, học, suy ngẫm, và sống Lời ấy.

Nhưng lời khuyên này đến quá trễ. Không phải là không có giải pháp về mặt lý thuyết — mà là thời gian để thực hiện giải pháp đó đã qua rồi. Cửa sắp đóng. Chàng rể sắp đến. Đây là thực tế nghiêm khắc nhất của ngụ ngôn.

Ma-thi-ơ 25:10

10 Nhưng trong khi họ đang đi mua thì chàng rể đã đến; những ai sẵn sàng thì đã đi với người vào tiệc cưới; và cửa đã được đóng lại.

Đây là câu Thánh Kinh chứa đựng sức nặng Thần học lớn nhất của toàn bộ ngụ ngôn. Mỗi mệnh đề đều mang một ý nghĩa chung cuộc sâu sắc. Không có chi tiết nào là ngẫu nhiên; tất cả đều dẫn đến một kết cục không thể đảo ngược.

“Trong khi họ đang đi mua”: Hãy lưu ý: các người dại đã làm đúng điều họ được bảo. Họ đi mua dầu, đúng như các người khôn đã khuyên. Họ không phải là những kẻ lười biếng hay phản loạn — họ đang cố gắng làm điều đúng đắn.

Nhưng vấn đề không nằm ở ý định của họ lúc ấy — vấn đề nằm ở sự thiếu chuẩn bị suốt thời gian dài trước đó.

Đây là bi kịch đầy nước mắt: sự nỗ lực đúng đắn vào thời điểm sai trễ. Họ đang làm điều đúng — nhưng đã quá muộn.

Điều này gợi nhớ lời tiên tri của A-mốt:

“Chúa Tự Hữu Hằng Hữu phán: Này, những ngày sẽ đến, là khi Ta khiến sự đói kém đến trong đất, chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, mà là về nghe lời của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Bấy giờ chúng nó sẽ đi dông dài từ biển này đến biển khác, từ phương bắc đến phương đông; chạy đi đây đi đó để tìm lời Đấng Tự Hữu Hằng Hữu mà không tìm được.” (A-mốt 8:11-12).

Có một thời điểm mà việc tìm kiếm Lời Chúa — dù cấp thiết đến đâu — cũng không còn kịp nữa. Đây không phải là Đức Chúa Trời nhẫn tâm — đây là hậu quả tự nhiên của việc trì hoãn sự chuẩn bị qua hết cơ hội này đến cơ hội khác.

“Chàng rể đã đến”: Đây là thời điểm của sự thiết lập Vương Quốc Trời trên đất. Đây là khoảnh khắc dứt khoát, không có thương lượng, không có gia hạn.

Trong tiếng Hy Lạp, động từ “đến” ở thì quá khứ xác định chỉ một hành động đã hoàn tất. Chàng rể không còn “sắp đến” hay “đang trên đường” — Đấng Christ đã đến. Thời gian chờ đợi đã kết thúc.

“Những ai sẵn sàng thì đã đi với người vào tiệc cưới”: Tiêu chuẩn duy nhất để vào tiệc cưới là sẵn sàng.

Không phải là hoàn hảo, không phải là vô tội, không phải là giỏi nhất — mà là sẵn sàng. Và sự sẵn sàng này đã được thể hiện qua nhiều năm tháng chuẩn bị, qua việc giữ dầu đầy bình, qua việc tích lũy Lời Chúa trong lòng.

Tiệc cưới ở đây là Tiệc Cưới Chiên Con trên Đất cũng là sự ăn mừng của Vương Quốc Ngàn Năm, nơi Đấng Christ cai trị từ Giê-ru-sa-lem, nơi dân I-sơ-ra-ên trung tín được đoàn tụ với Hội Thánh là Cô Dâu, nơi lời tiên tri trong Ê-sai 62:5 được ứng nghiệm: “như chàng rể mới vui mừng vì vợ mới mình, Thiên Chúa ngươi cũng vui mừng vì ngươi.”

“Và cửa đã được đóng lại”: nhóm chữ này là nhóm chữ buồn nhất trong toàn bộ ngụ ngôn. Không phải “cửa đang đóng” hay “cửa sắp đóng” — mà “cửa đã đóng.” Hành động hoàn thành, không thể đảo ngược. Trong tiếng Hy Lạp, động từ “đóng” ở thì quá khứ hoàn thành — một cánh cửa đã bị đóng và vẫn đang ở trong trạng thái đóng.

Hình ảnh cửa đóng này gợi nhớ một hình ảnh chung cuộc khủng khiếp khác trong Thánh Kinh: cửa tàu Nô-ê. “Rồi, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đóng cửa tàu cho ông.” (Sáng Thế Ký 7:16).

Khi Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đóng cửa tàu cho Nô-ê, những ai ở ngoài không còn cơ hội vào. Cơn lũ đến, mọi người bên ngoài tàu bị diệt, không có ngoại lệ. Đức Chúa Jesus đã dùng chính hình ảnh thời Nô-ê để mô tả sự đến của Ngài dành cho Hội Thánh:

“Vì như những ngày của Nô-ê, sự đến của Con Người cũng sẽ như vậy. Vì như họ trong những ngày trước cơn lụt, ăn, uống, cưới, gả cho tới ngày Nô-ê đã vào trong tàu. Họ đã không biết gì hết cho tới khi cơn lụt đã đến và đem đi hết thảy. Sự đến của Con Người cũng sẽ là như vậy.” (Ma-thi-ơ 24:37-39).

Cửa đã đóng. Đây là thực tế không thể thay đổi, không thể tranh luận, không thể van xin mở lại.

Đây cũng là điều sẽ xảy ra trong ngày Đấng Christ đến để đón Hội Thánh ra khỏi thế gian. Rất nhiều người xưng mình là con dân của Chúa mà cho tới thời điểm đó, họ không hề mong ngóng gì sự đến của Ngài, nhưng họ vẫn đắm mình, chạy theo những sự thuộc về thế gian. Mặc dù ăn, uống, cưới, gả, làm việc không phải là sai trái, nhưng nếu vì cớ những sự ấy mà không có lòng mong chờ Chúa đến thì ắt là sẽ bị Chúa bỏ lại.

Ma-thi-ơ 25:11-12

11 Sau đó, các nữ đồng trinh khác cũng đến và nói: ‘Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cửa cho chúng tôi!

12 Nhưng người đã đáp rằng: ‘Thật, ta nói với các ngươi, ta không biết các ngươi.’

Đây là một trong những cảnh thương tâm nhất trong toàn bộ Thánh Kinh — và cũng là một trong những lời tuyên bố nghiêm khắc nhất từ miệng Đức Chúa Jesus. Sự đau đớn của nó nằm ở chỗ: những người bị từ chối không phải là những kẻ thù của Chúa, mà là những người tưởng mình thuộc về Ngài.

“Hỡi Chúa, hỡi Chúa”: Họ gọi Ngài là Chúa! Không phải một lần mà hai lần, với sự khẩn thiết tột độ. Họ biết Ngài là ai. Họ thừa nhận thẩm quyền và địa vị của Ngài. Họ không đến cửa của kẻ xa lạ — họ đến cửa của Chúa của mình.

Và đây là điều làm cho sự từ chối của Ngài trở nên đau đớn hơn bất cứ điều gì khác có thể tưởng tượng được.

Đức Chúa Jesus đã từng cảnh báo về tình huống này trong Bài Giảng Trên Núi:

“Chẳng phải ai nói với Ta: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ Thì người ấy sẽ vào trong Vương Quốc Trời. Nhưng người làm theo ý muốn của Cha Ta, Đấng ở trong các tầng trời.” (Ma-thi-ơ 7:21).

Việc gọi danh Ngài không phải là đủ — điều quan trọng là đã sống theo Lời Ngài trong suốt cuộc đời mình.

“Xin mở cửa cho chúng tôi”: Đây là lời cầu xin tuyệt vọng nhất. Họ nghe tiếng vui mừng bên trong, họ biết mình đang đứng phía ngoài, họ biết thời gian đã hết — và họ chỉ còn biết gõ cửa và van xin.

Hình ảnh này được Đức Chúa Jesus dùng theo chiều ngược lại trong Khải Huyền 3:20:

“Này, Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Nếu ai nghe tiếng của Ta mà mở cửa, Ta sẽ vào với người, sẽ ăn bữa tối với người, và người với Ta.”

Trong thời đại Hội Thánh, chính Đấng Christ là Đấng đứng ngoài gõ cửa lòng người. Nhưng trong ngụ ngôn này, vai trò đã đảo ngược: người không có Lời Chúa trong lòng đứng bên ngoài gõ cửa, xin vào với Chúa — vì họ đã bỏ lỡ thời gian Ngài gõ cửa lòng họ.

“Thật, ta nói với các ngươi”: Từ “thật” được Đức Chúa Jesus dùng để nhấn mạnh những tuyên bố quan trọng và dứt khoát nhất. Đây không phải là một câu nói bình thường. Khi Ngài mở đầu bằng “thật”, Ngài đang đặt trọng lượng của chính thẩm quyền thiêng liêng của Ngài vào lời phán.

“Ta không biết các ngươi”: Đây là lời khẳng định rất đau lòng.

Trong tiếng Hy Lạp, động từ “không biết” không chỉ có nghĩa là “không biết tên” — nó còn có nghĩa là không có mối quan hệ sâu sắc, không có sự nhận biết về bản chất. Đây là từ ngữ giao ước.

Trong bối cảnh văn hóa I-sơ-ra-ên, “biết” ai đó có nghĩa là có mối quan hệ giao ước thân mật với người đó. Khi Đức Chúa Trời nói “Ta biết ngươi”, đó là lời khẳng định giao ước. Khi Ngài nói “Ta không biết ngươi”, đó là sự từ chối giao ước.

Nhưng làm thế nào Đấng Christ có thể nói “Ta không biết các ngươi” với những người đã gọi Ngài là “Chúa”?

Bởi vì họ đã không đến với Ngài qua con đường Ngài đã thiết lập — con đường của Lời Ngài (cả Cựu Ước lẫn Tân Ước). Họ đã không tiếp nhận sự mạc khải đầy đủ của Ngài. Trong một nghĩa quan trọng, họ đã không thật sự biết Ngài là ai — họ chỉ biết một phần về Ngài.

Đây là ứng nghiệm cụ thể và bi thảm của Ô-sê 4:6:

“Dân Ta bị diệt vì cớ thiếu tri thức. Bởi ngươi bỏ tri thức thì Ta cũng sẽ bỏ ngươi để ngươi không làm thầy tế lễ cho Ta nữa; bởi ngươi đã quên luật pháp của Thiên Chúa mình thì Ta cũng sẽ quên con cái ngươi.”

Thiếu sự hiểu biết về Lời Chúa — đặc biệt là sự mạc khải Tân Ước về Đấng Mê-si-a — dẫn đến việc không được Ngài nhận biết.

Lời “Ta không biết các ngươi” trong Ma-thi-ơ 25:12 có âm hưởng trực tiếp với lời trong Ma-thi-ơ 7:23 và Lu-ca 13:27, khi Chúa nói với những người nghĩ mình đã phục vụ Ngài: “Ta chẳng hề biết các ngươi! Hãy lui ra khỏi Ta! Hỡi những kẻ làm ác!”

Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Đây là một chủ đề Thần học nhất quán trong lời dạy của Đức Chúa Jesus: Có những người sẽ đến trước mặt Ngài trong ngày phán xét và bị từ chối, không phải vì họ là kẻ thù của Ngài, mà vì họ chưa thật sự tiếp nhận mối quan hệ giao ước thật với Ngài, qua Lời Ngài.

Ma-thi-ơ 25:13

13 Vậy, hãy canh chừng! Vì các ngươi không biết ngày và giờ mà Con Người đến.

Sau tất cả những gì đã xảy ra — sau cánh cửa đóng, sau lời “Ta không biết các ngươi” — Đức Chúa Jesus không kết thúc ngụ ngôn bằng sự lên án. Ngài kết thúc bằng một lời khuyên — một lời mời gọi hành động.

Điều này tiết lộ tấm lòng của Ngài: Ngài không muốn ai phải đứng ngoài cửa đóng. Ngài kể câu chuyện bi thảm này để cảnh tỉnh, không phải để kết án. Cánh cửa vẫn còn đang mở cho những ai còn nghe — nhưng sẽ không còn mở mãi.

“Vậy”: Liên từ này nối liền ngụ ngôn với lời khuyên thực hành. Vì tất cả những gì đã được kể — vì cửa có thể đóng, vì ngày và giờ không ai biết — vì thế, hãy canh chừng.

Đây là cấu trúc của mọi lời dạy của Đức Chúa Jesus: Ngài luôn đưa ra lẽ thật trước, sau đó mới đưa ra mệnh lệnh. Lẽ thật (cánh cửa sẽ đóng, người dại bị từ chối) không được ban ra để làm chúng ta tuyệt vọng, nhưng để làm nền tảng cho sự vâng phục.

“Hãy canh chừng”: Trong tiếng Hy Lạp là dạng mệnh lệnh hiện tại, có nghĩa là tiếp tục canh chừng, không ngừng canh chừng. Đây không phải là một hành động một lần. Đây là một thái độ sống liên tục và bền bỉ.

Trong bối cảnh của toàn bộ ngụ ngôn, canh chừng không có nghĩa là không bao giờ ngủ. Và chúng ta đã thấy rằng cả mười người đều ngủ mà không ai bị phán xét vì điều đó.

Canh chừng có nghĩa là luôn ở trong trạng thái sẵn sàng — nghĩa là đèn luôn đầy dầu, bình luôn đầy dầu dự trữ. Canh chừng là sống trong Lời Chúa mỗi ngày, tích lũy Lời ấy trong lòng, đến mức dù chàng rể có đến bất kỳ lúc nào, đèn của mình vẫn sẵn sàng cháy sáng.

“Vì các ngươi không biết ngày và giờ”: Đây là lý do mang tính Thần học cho lệnh canh chừng.

Sự không chắc chắn về thời điểm không phải là lý do để lo lắng — đó là lý do để chuẩn bị. Nếu người ta biết chính xác lúc nào chàng rể đến, họ có thể tính toán và chuẩn bị vào phút cuối. Nhưng vì không ai biết, sự chuẩn bị phải là liên tục và toàn diện.

Đây là nguyên tắc của Truyền Đạo 11:6:

“Buổi sáng hãy gieo hạt giống của ngươi, và buổi chiều đừng để tay ngươi nghỉ ngơi; vì ngươi không biết điều nào sẽ thịnh vượng, điều này hay điều kia, hay cả hai đều sẽ tốt như nhau.”

Sự không chắc chắn không phải là cái cớ cho sự lười biếng — mà là lý do cho sự siêng năng bền bỉ.

“Con Người đến”: Đây là danh hiệu Đức Chúa Jesus thường dùng để chỉ chính Ngài, gắn liền với lời tiên tri trong Đa-ni-ên 7:13-14:

“Ta nhìn thấy trong những khải tượng ban đêm, này, có một Đấng giống như con người, đến với những đám mây trời. Đấng ấy đến với Đấng Thượng Cổ của Các Thời Đại, và họ đem Người đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền cai trị, vinh quang, và vương quốc, mà mọi dân, mọi nước, mọi thứ tiếng đều phụng sự Người. Quyền cai trị của Người là quyền cai trị không dứt, sẽ chẳng qua đi, và vương quốc của Người sẽ không bị diệt.”

Sự đến của Con Người được nói ở đây là sự tái lâm của Đấng Christ trên đất. Không ai biết ngày giờ của sự kiện đó, dù có thể biết được thời khoảng là sau khi bảy năm cầm quyền của AntiChrist kết thúc.

Ngụ ngôn này, trong sự ứng nghiệm tiên tri trực tiếp của nó, là lời cảnh báo và khuyến khích dành cho dân I-sơ-ra-ên sẽ sống trong Kỳ Tận Thế.

Những người I-sơ-ra-ên trong giai đoạn đó sẽ đối mặt với áp lực chưa từng có: AntiChrist sẽ cấm thờ phượng Thiên Chúa, tiêu hủy Thánh Kinh, và bắt bớ những ai từ chối nhận dấu của nó (Khải Huyền 13:15-17). Trong bối cảnh đó, Lời Chúa được giấu trong lòng là nguồn sống duy nhất còn lại khi mọi nguồn bên ngoài bị cắt đứt.

Những người I-sơ-ra-ên kính sợ Đức Chúa Trời trong thời đó cần phải:

  • Thứ nhất, tiếp nhận trọn vẹn sự mạc khải của Đức Chúa Trời — không chỉ Cựu Ước mà cả Tân Ước, tức là nhận biết Jesus người Na-xa-rét là Đấng Mê-si-a. Đây là “dầu trong bình” — sự chuẩn bị toàn diện mà không thể thiếu. Xa-cha-ri 12:10 tiên tri: “Chúng nó sẽ nhìn xem Ta là Đấng chúng nó đã đâm”. Trong Kỳ Tận Thế, sẽ có một sự tỉnh thức thuộc linh lớn lao trong dân I-sơ-ra-ên — và những ai tiếp nhận sự mạc khải này sẽ là “năm người khôn.”
  • Thứ nhì, không trì hoãn việc gặp gỡ Lời Chúa. Kỳ Tận Thế là thời gian cơ hội cuối cùng trước khi Đấng Christ tái lâm. Mỗi ngày còn có Thánh Kinh trong tay là một ngày quý báu không thể lấy lại. Như lời Chúa trong II Cô-rinh-tô 6:2: “Kìa, hiện nay là thì thuận tiện! Kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!”
  • Thứ ba, hiểu rằng đức tin của mình không thể vay mượn từ người khác. Trong giờ phút quyết định, mỗi người phải đứng trước mặt Đấng Christ với đèn của chính mình — với đời sống thuộc linh của chính mình, được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa mà chính mình đã tiếp nhận. Sự công chính của Nô-ê, Đa-ni-ên, và Gióp không thể cứu được con cái họ (Ê-xê-chi-ên 14:14) — mỗi người phải có dầu riêng.

Dù ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh là lời tiên tri dành cho một giai đoạn cụ thể và một nhóm người cụ thể, giá trị đạo đức và thuộc linh của nó là muôn đời và phổ quát. Hội Thánh có thể và phải học từ ngụ ngôn này các bài học quan trọng:

  • Bài học thứ nhất: Hãy tích lũy Lời Chúa trong lòng mỗi ngày. Thi Thiên 1:1-3 mô tả người phước hạnh là người ngày và đêm suy ngẫm luật pháp của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Đây không phải là việc đọc qua loa theo nghĩa vụ — đây là suy ngẫm, tức là để Lời Chúa thấm vào lòng, chiếm lĩnh tâm trí, và định hình cuộc sống. Người như vậy “sẽ như cây được trồng gần các dòng nước”, “sinh trái của nó trong mùa của nó. Lá của nó sẽ chẳng tàn héo”. Đây là hình ảnh của bình luôn đầy dầu. Sứ Đồ Phao-lô khuyên trong Cô-lô-se 3:16: “Lời của Đấng Christ hãy đầy trong lòng các anh chị em”. Không phải vừa đủ, không phải ít ỏi — mà là dư dật. Đây chính là “dầu trong bình.”
  • Bài học thứ nhì: Đừng chỉ có hình thức bên ngoài của đời sống tin kính Chúa mà thiếu sự sâu sắc bên trong. Năm người dại không phải là những kẻ vô thần hay kẻ thù của Đức Chúa Trời — họ là những người thuộc cộng đồng giao ước, đang trên đường đi đón chàng rể. Nhưng đời sống thuộc linh của họ thiếu chiều sâu — thiếu sự đầy dẫy của Lời Chúa trong lòng. Sứ Đồ Phao-lô đã cảnh báo trong II Ti-mô-thê 3:5 về những người “có hình thức của sự tin kính, nhưng chối bỏ quyền lực của sự ấy”. Đèn không có dầu chỉ là vật trang trí, không phải nguồn sáng thật.
  • Bài học thứ ba: Không ai có thể thay thế cho việc bản thân mình tiếp nhận và sống Lời Chúa. Cha mẹ tin Chúa không thể thay thế cho con cái trong việc xây dựng đời sống thuộc linh cá nhân. Người chăn, trưởng lão không thể thay thế cho tín đồ trong việc đọc và suy ngẫm Thánh Kinh. Truyền thống Hội Thánh không thể thay thế cho mối quan hệ cá nhân với Lời Đức Chúa Trời. Mỗi người phải “đi mua dầu” cho chính mình — phải tự mình đầu tư thời gian, công sức, và tâm trí vào việc tiếp nhận Lời Chúa.
  • Bài học thứ tư: Đừng trì hoãn. Không ai biết ngày hay giờ Con Người đến. Nhưng ngay cả không tính đến ngày Chúa đến, mỗi người đều có một ngày mình “phải đối diện Chúa” — ngày qua đời. Và khi ngày ấy đến, không còn thời gian để “đi mua dầu” nữa. Thư Hê-bơ-rơ 3:15 cảnh báo: “Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng của Ngài, chớ làm cứng lòng của các ngươi…” Hôm nay — không phải ngày mai, không phải khi tiện hơn, không phải khi ổn định hơn. Hôm nay là ngày đổ đầy dầu vào bình.

Ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh kể về một đêm tối, một sự chờ đợi dài, và một khoảnh khắc quyết định không thể đảo ngược. Nó kể về sự khác biệt giữa những ai đã sống trong Lời Chúa và những ai chỉ mang Lời Chúa như một vật trang sức.

Dầu trong bình — Lời Chúa được tiếp nhận, suy ngẫm, và sống trong tấm lòng — không thể tích lũy trong một đêm. Nó được tích lũy từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng năm, qua những buổi sáng đọc Thánh Kinh khi mắt còn chưa tỉnh ngủ, qua những buổi chiều suy ngẫm Lời Ngài khi tâm trí đã mệt mỏi, qua những đêm khuya nhờ cậy lời hứa của Ngài khi linh hồn lo âu.

Chàng rể đang đến. Không ai biết đêm nào. Bình của bạn đang có bao nhiêu dầu?

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
18/04/2026

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Xin Chỉ Đi Theo Ngài”:

https://karaokethanhca.net/xin-chi-di-theo-ngai/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời