Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL124 Ngụ Ngôn về Tiệc Cưới

959 views

YouTube: https://youtu.be/QT0kohIyFxM

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL124 Ngụ Ngôn về Tiệc Cưới
Ma-thi-ơ 22:1-14

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 22:1-14

1 Đức Chúa Jesus đã lại phán trong ngụ ngôn với họ rằng:

2 “Vương Quốc Trời đã được ví như một người là vua, người đã làm tiệc cưới cho con trai của mình.

3 Người đã sai những đầy tớ của mình đi mời những người đã được mời đến tiệc cưới, nhưng họ đã không muốn đến.

4 Người đã sai những đầy tớ khác nữa, nói rằng: ‘Hãy nói với những người đã được mời: “Này, ta đã sửa soạn bữa tiệc của ta, những bò của ta và những thú béo đã giết xong, mọi việc đã sẵn cả, hãy đến và dự tiệc cưới.”‘

5 Nhưng họ đã bỏ đi, không quan tâm; kẻ thì đi ra ruộng của mình, kẻ thì lo việc mua bán của mình;

6 còn những kẻ khác đã bắt những đầy tớ của người, hành hạ, rồi giết chết.

7 Vua đã nổi giận, sai quân lính của người diệt những kẻ giết người ấy, và người đã đốt thành của họ.

8 Kế đó, người phán với những đầy tớ của mình rằng: ‘Tiệc cưới thì sẵn sàng, nhưng những người được mời đã không xứng đáng.

9 Vậy, các ngươi hãy đi tới những giao lộ, nếu các ngươi tìm được bao nhiêu người thì mời hết đến tiệc cưới.’

10 Những đầy tớ ấy đã đi khắp những con đường, nhóm lại hết thảy những người họ đã tìm được, cả xấu lẫn tốt; phòng tiệc cưới đã đầy những người dự tiệc.

11 Vua đã vào xem những người dự tiệc, người nhìn thấy tại đó một người không mặc áo lễ cưới.

12 Người đã phán với kẻ ấy rằng: ‘Hỡi bạn! Sao ngươi vào đây mà không có áo lễ cưới?’ Nhưng kẻ ấy đã im lặng.

13 Khi ấy, vua đã truyền cho những đầy tớ rằng: ‘Hãy trói tay chân nó và ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài. Tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng.’

14 Vì nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn.”

Trong bài này, chúng ta sẽ học về ngụ ngôn thứ ba trong ba ngụ ngôn do Đức Chúa Jesus liên tiếp kể cho giới lãnh đạo Do-thái Giáo, những người đang tìm cách bắt bẻ Ngài, và cho cả đám đông dân chúng đang có mặt lúc ấy.

Nhiều người cho rằng ngụ ngôn này và ngụ ngôn do Lu-ca ghi lại trong Lu-ca 14:12-24 là cùng một ngụ ngôn. Tuy nhiên, khi so sánh, chúng ta sẽ thấy nội dung của hai ngụ ngôn khác nhau. Chúng cũng được Đức Chúa Jesus kể trong hai thời điểm khác nhau. Ngụ ngôn do Lu-ca ghi lại đã được Đức Chúa Jesus kể trên hành trình từ Ga-li-lê về lại Giê-ru-sa-lem, và được Ngài kể trong một bữa ăn, vào một ngày Sa-bát, trong nhà của một người Pha-ri-si. Ngụ ngôn do Ma-thi-ơ ghi lại đã được Đức Chúa Jesus kể hai ngày trước khi Ngài bị bắt và bị đóng đinh trên thập tự giá. Địa điểm là trong khuôn viên của Đền Thờ.

Ngụ ngôn do Lu-ca ghi lại nhấn mạnh về ân điển và sự kêu gọi chung. Ngụ ngôn do Ma-thi-ơ ghi lại nhấn mạnh về sự phán xét.

Trong bài học này:

  • Vị vua trong ngụ ngôn tiêu biểu cho Đức Chúa Trời.

  • Tiệc cưới tiêu biểu cho Vương Quốc Trời.

  • Con trai của vua tiêu biểu cho Đấng Christ.

  • Những khách đã được mời dự tiệc cưới nhưng từ chối không đến dự tiệc là các thành phần, giai cấp trong dân I-sơ-ra-ên.

  • “Thành” của những khách ấy chính là Thành Giê-ru-sa-lem.

  • Những khách được mời vào tiệc cưới sau đó là người trong muôn dân trên đất.

  • Áo lễ cưới tiêu biểu cho nếp sống mới trong Đấng Christ.

  • Người khách không mặc áo lễ cưới là người tin nhận Tin Lành nhưng không sống theo Lời Chúa.

  • Sự tối tăm, ở bên ngoài, nơi sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng chính là hồ lửa đời đời, còn gọi là hỏa ngục.

Ngụ ngôn này là bài học rất quan trọng cho những ai tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ nhưng không thật lòng ăn năn tội.

Ma-thi-ơ 22:1-3

1 Đức Chúa Jesus đã lại phán trong ngụ ngôn với họ rằng:

2 “Vương Quốc Trời đã được ví như một người là vua, người đã làm tiệc cưới cho con trai của mình.

3 Người đã sai những đầy tớ của mình đi mời những người đã được mời đến tiệc cưới, nhưng họ đã không muốn đến.

Tiếp theo ngụ ngôn về hai đứa con và ngụ ngôn về chủ vườn nho với những tá điền gian ác, Đức Chúa Jesus kể thêm ngụ ngôn về tiệc cưới do một vị vua tổ chức cho con trai của mình. Lần này, Ngài xác định rõ, ngụ ngôn tiêu biểu cho các lẽ thật liên quan Vương Quốc Trời.

Tiệc cưới trong ngụ ngôn không nói về “Tiệc Cưới của Chiên Con” mà chỉ là sự ví sánh Vương Quốc Trời như một sự kiện vô cùng trọng đại, tràn đầy phước hạnh. Đó là sự kiện Đức Chúa Trời ban cơ nghiệp của Ngài cho loài người. Hình ảnh của tiệc cưới giúp hiện thực hóa đặc tính của Vương Quốc Trời là sự loài người được thông công vui mừng, trong giao ước đời đời với Đấng Christ. Vì thế, ngụ ngôn này áp dụng cho mọi thời đại, kể từ khi Đấng Christ rao giảng Tin Lành cho tới khi kết thúc thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm.

Trong suốt thời gian khoảng ba ngàn năm, Đức Chúa Trời mở rộng lời mời loài người bước vào Vương Quốc Đời Đời của Ngài. Ngài đã sai chính Đấng Christ công bố Tin Lành về Vương Quốc Trời cho tuyển dân của Ngài là dân I-sơ-ra-ên. Sau đó, Đấng Christ sai những môn đồ của Ngài tiếp tục công cuộc rao giảng Tin Lành của Vương Quốc Trời cho muôn dân (Ma-thi-ơ 28:18-20; Mác 16:15; Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8). Khi thời kỳ Vương Quốc Ngàn Năm kết thúc, trời cũ đất cũ sẽ qua đi, trời mới đất mới sẽ được dựng nên, và Vương Quốc Trời sẽ hiện thực cho tới đời đời.

Những đầy tớ của Đức Chúa Trời chính là những môn đồ chân thật của Đấng Christ. Họ không chỉ là những người có chức vụ trong Hội Thánh như những người chăn, những người rao giảng Tin Lành, những trưởng lão mà còn là mỗi một con dân Chúa. Bất cứ ai tin nhận ơn cứu rỗi của Đấng Christ, dự Tiệc Thánh để nhớ đến ơn cứu rỗi của Ngài đều có bổn phận rao truyền sự chết của Ngài cho tới lúc Ngài đến.

Những khách được mời đầu tiên chính là dân I-sơ-ra-ên. Vì vào thời của Đức Chúa Jesus, Tin Lành chỉ được ưu tiên giảng ra cho dân I-sơ-ra-ên. Sau khi Ngài phục sinh thì Tin Lành mới được rao giảng cho muôn dân. Rất tiếc, số người I-sơ-ra-ên tin nhận Tin Lành vào thời của Đức Chúa Jesus rất là ít. Phần lớn họ chống nghịch những người rao giảng Tin Lành. Điển hình là các thầy tế lễ, các thầy thông giáo, và các trưởng lão trong dân I-sơ-ra-ên. Nhiều người trong họ được trực tiếp nghe Đức Chúa Jesus phán dạy ngụ ngôn này.

Có hai nhóm chữ trong câu 3 mà chúng ta cần chú ý. Đó là nhóm chữ “những người đã được mời đến tiệc cưới” và nhóm chữ “nhưng họ đã không muốn đến”.

Ngay từ thời Áp-ra-ham, qua giao ước của Đức Chúa Trời với ông, dân I-sơ-ra-ên đã có địa vị làm công dân của Vương Quốc Trời. Khi Ngài đem họ ra khỏi xứ nô lệ Ê-díp-tô, Ngài đã gọi họ là vương quốc những thầy tế lễ và một dân thánh cho Ngài.

“Vậy, bây giờ, nếu các ngươi thật nghe theo tiếng Ta và giữ giao ước Ta, thì các ngươi sẽ là kho báu riêng của Ta, giữa tất cả các dân, vì cả trái đất thuộc về Ta. Các ngươi sẽ là một vương quốc những thầy tế lễ và một dân thánh cho Ta. Đó là những lời mà ngươi sẽ nói cho con cháu của I-sơ-ra-ên.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5-6).

Họ không được mời cách ngẫu nhiên như những khách sẽ được mời sau họ. Họ đã có tên trên “thiệp mời” (giao ước của Đức Chúa Trời với các tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp). Họ có chỗ ngồi danh dự tại bàn tiệc.

Động từ “đã được mời” trong nguyên ngữ Hy-lạp là động từ ở thì hoàn thành, diễn tả một trạng thái đã hoàn tất và có hiệu lực kéo dài. Họ đang ở trong tình trạng “đã được định sẵn là khách mời”. Điều này nhấn mạnh đến ân điển chủ động và sự chuẩn bị từ lâu của Đức Chúa Trời dành cho họ. Họ là dân được chọn, có giao ước, có Lời Đức Chúa Trời, có các tiên tri, và cuối cùng là có chính Con Một của Ngài đến với họ, mời gọi họ.

Thế nhưng, “họ đã không muốn đến”. Hay nói cách khác là họ đã cố ý không đến. Động từ “đã không muốn đến” diễn tả ý chí, sự ước muốn kèm theo quyết định. Họ đã dùng chính ý chí tự do của mình để chống lại ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời. Đây không phải là sự bất lực (“không thể đến”), mà là một sự lựa chọn có chủ đích (“không muốn đến”). Sự từ chối nằm ở tấm lòng, ở ý muốn.

Họ chọn không đến vì họ xem thường lời mời. Họ chọn không đến vì Vương Quốc Trời đối với họ không quan trọng bằng những gì họ đang theo đuổi trong thế gian.

Ma-thi-ơ 22:4-6

4 Người đã sai những đầy tớ khác nữa, nói rằng: ‘Hãy nói với những người đã được mời: “Này, ta đã sửa soạn bữa tiệc của ta, những bò của ta và những thú béo đã giết xong, mọi việc đã sẵn cả, hãy đến và dự tiệc cưới.”‘

5 Nhưng họ đã bỏ đi, không quan tâm; kẻ thì đi ra ruộng của mình, kẻ thì lo việc mua bán của mình;

6 còn những kẻ khác đã bắt những đầy tớ của người, hành hạ, rồi giết chết.

Sự kiện các thức ăn ngon đã được cung cấp trong tiệc cưới tiêu biểu cho ân điển cứu rỗi loài người ra khỏi án phạt của tội lỗi đã được Đức Chúa Trời ban cho, qua cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá. Đây không phải là một lời hứa suông, mà là một tuyên bố về một sự thật đã hoàn thành. Công việc cứu chuộc không thiếu gì cả, nó trọn vẹn và đầy đủ. Vấn đề duy nhất nằm ở phía loài người: “Hãy đến!” Đây là bản chất của ân điển: Đức Chúa Trời đã làm tất cả, loài người chỉ cần đáp ứng bằng đức tin.

Lời kêu gọi “hãy đến và dự tiệc cưới” là lời kêu gọi hãy ăn năn và tin nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời để được vào trong Vương Quốc Trời. Dân I-sơ-ra-ên đã hiểu rất rõ ý nghĩa của sự ăn năn và sự tha tội, qua hình ảnh sinh tế chuộc tội.

Loại người thứ nhất trong dân I-sơ-ra-ên không quan tâm đến nhu cầu thuộc linh. Họ chỉ quan tâm đến nhu cầu thuộc thể. Phần lớn trong dân I-sơ-ra-ên thuộc về loại người thứ nhất này. Họ không phải là những người xấu. Họ chỉ là những người bận rộn với những điều tốt. “Đồng ruộng” (nông nghiệp) và “việc mua bán” (thương mại) đại diện cho công việc, sự nghiệp, trách nhiệm gia đình, và những mối quan tâm hợp pháp của đời sống. Nhưng mối nguy hiểm chính là sự bận rộn hợp pháp này trở thành kẻ thù lớn nhất của điều tốt nhất. Họ không chủ động chống đối Chúa; họ chỉ đơn giản là bị cuốn đi bởi những ưu tiên trong thế gian. Đây thường là cám dỗ lớn nhất cho đa số loài người ngày nay.

Loại người thứ nhì trong dân I-sơ-ra-ên là những người thù nghịch Tin Lành vì Tin Lành đụng chạm đến quyền lợi, địa vị, chức quyền của họ. Nó không chỉ là sự khác biệt về Thần học, mà còn là một cuộc tấn công vào vương quốc của sự kiêu ngạo và lòng tham. Hầu hết những thầy tế lễ, những thầy thông giáo, những trưởng lão trong dân I-sơ-ra-ên, và ngay cả Vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba thuộc về loại người thứ nhì này. Họ sẵn sàng bách hại và giết chết những ai rao giảng Tin Lành. Chấp Sự Ê-tiên, Sứ Đồ Gia-cơ là hai trong số những người bị giết trong thời sơ khai của Hội Thánh. Các sứ đồ khác thì bị đánh đập, nhốt tù, ném đá. Ngày nay, họ là những người thuộc hàng giáo phẩm trong các giáo hội mang danh Chúa. Họ không thể giết hại những ai rao giảng Tin Lành chân thật nhưng họ vu khống những người ấy là theo tà giáo và rao giảng tà giáo. Họ công khai gọi những ai vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời là theo tà giáo. Họ ngoan cố xóa bỏ điều răn thứ tư trong Mười Điều Răn.

Chúng tôi nghĩ rằng, sự kiện ông Charlie Kirk bị ám sát khoảng một tháng, sau khi ông hoàn thành cuốn sách mới nhất với tựa đề: “DỪNG LẠI, NHÂN DANH THIÊN CHÚA: Tại Sao Việc Tôn Giữ Ngày Sa-bát Sẽ Thay Đổi Cuộc Đời Bạn” (Stop, in the Name of God: Why Honoring the Sabbath Will Transform Your Life) đã khiến cho cuốn sách đó được toàn thế giới biết đến. Chúng tôi nghĩ rằng đó chính là thông điệp cuối cùng của Đức Chúa Trời, trước ngày Đấng Christ đến với Hội Thánh, dành cho những ai xưng mình là con dân Chúa mà ngang nhiên bác bỏ ngày Sa-bát thánh của Thiên Chúa. Đó là ngày thánh của Thiên Chúa từ khi sáng thế, không phải là ngày của loài người để loài người tự ý xóa bỏ hay thay đổi.

Chúng tôi cảm thấy kinh khủng khi nhớ đến lời tiên tri của Đức Chúa Jesus về sự khi Ngài đến với Hội Thánh, Ngài sẽ tìm thấy đức tin trên đất chăng (Lu-ca 18:8)? Vì lời ấy hàm ý trong ngày Đấng Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian sẽ có rất nhiều người xưng mình là môn đồ của Ngài, nhưng họ sẽ bị bỏ lại. Họ sẽ bị bỏ lại vì họ vẫn sống trong sự vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời. Họ không có đức tin vào Lời Hằng Sống của Thiên Chúa, là Thánh Kinh, nên họ đã không làm theo Lời Chúa.

Rất có thể ngày Đấng Christ đến với Hội Thánh, số con dân Chúa đã qua đời được sống lại rất nhiều, nhưng số con dân Chúa đang sống được biến hóa thì rất ít. Vì có lẽ không đến 1% số người mang danh là con dân Chúa vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời, tôn thánh ngày Sa-bát. Thống kê mới nhất cho thấy có khoảng 2,6 tỉ người xưng nhận mình là môn đồ của Đấng Christ. Một phần trăm của số đó là 26 triệu người. Cũng theo thống kê mới nhất, ngoài khoảng 22 triệu tín đồ của Cơ-đốc Phục Lâm, chỉ có khoảng 2,5 triệu người thuộc các giáo hội khác giữ ngày Sa-bát. Và trong số chưa đến 1% những người xưng mình là môn đồ của Đức Chúa Jesus vâng giữ ngày Sa-bát Thứ Bảy thì có bao nhiêu người thật sự mặc lấy con người mới mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ?

Ma-thi-ơ 22:7-9

7 Vua đã nổi giận, sai quân lính của người diệt những kẻ giết người ấy, và người đã đốt thành của họ.

8 Kế đó, người phán với những đầy tớ của mình rằng: ‘Tiệc cưới thì sẵn sàng, nhưng những người được mời đã không xứng đáng.

9 Vậy, các ngươi hãy đi tới những giao lộ, nếu các ngươi tìm được bao nhiêu người thì mời hết đến tiệc cưới.’

Sự nổi giận của nhà vua là hoàn toàn công chính. Sự nhà vua sai quân lính diệt những kẻ giết người rồi đốt thành của họ là công chính. Thực tế, sau khi dân I-sơ-ra-ên chối bỏ Đấng Christ một cách tập thể, giao nộp Ngài cho chính quyền La-mã đóng đinh Ngài trên thập tự giá, và tiếp tục bách hại Hội Thánh, Đức Chúa Trời đã sửa phạt họ cách nghiêm khắc. Vào năm 70, quân lính La-mã đã phá hủy Thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thiên Chúa. Khoảng một triệu người, bao gồm cư dân Thành Giê-ru-sa-lem và những người từ khắp nơi về dự Lễ Vượt Qua năm đó, phần lớn thì bị giết chết, phần còn lại thì bị bắt và bị bán làm nô lệ.

Trong câu 8, Đức Chúa Jesus đã tiên tri về sự Tin Lành sẽ không còn ưu tiên rao giảng cho dân I-sơ-ra-ên nữa. Chính Ngài đã truyền lệnh đó cho các môn đồ, sau khi Ngài phục sinh. Vương Quốc Trời đã sẵn sàng cho dân I-sơ-ra-ên nhưng sự chống nghịch Đấng Christ đã khiến cho họ không còn xứng đáng nữa. Điều đó không có nghĩa là Đức Chúa Trời buông bỏ họ mà chỉ có nghĩa là họ không còn đặc quyền trong Vương Quốc Trời. Họ không còn là dân tộc được biệt riêng làm thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời mà đặc quyền ấy đã ban cho Hội Thánh, bao gồm mọi dân tộc.

“Nhưng các anh chị em là dòng dõi được lựa chọn, là chức thầy tế lễ của nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Ngài, để cho các anh chị em rao giảng sự trọn lành của Đấng đã gọi các anh chị em ra khỏi sự tối tăm, vào trong sự sáng láng lạ lùng của Ngài.” (I Phi-e-rơ 2:9).

Tin Lành vẫn được giảng cho dân I-sơ-ra-ên như được giảng cho các dân tộc khác. Những người I-sơ-ra-ên tin nhận Tin Lành vẫn có vị trí đặc biệt trong Vương Quốc Trời, vì họ thuộc về Hội Thánh, được hiệp một cách mầu nhiệm với Đấng Christ. Họ cũng vẫn ở trong địa vị thầy tế lễ và được đồng trị Vương Quốc Trời với Đấng Christ.

Câu 9 nói đến sự kiện Tin Lành chính thức được rao giảng cho muôn dân.

Những “giao lộ” là chỗ các con đường gặp nhau như ngã ba, ngã tư, khác với nhà hội và Đền Thờ. Nơi ngã ba hay ngã tư đường thường có nhiều người nhất và là đủ mọi thành phần, không riêng biệt như trong các nhà hội và Đền Thờ. Mệnh lệnh “hãy đi tới những giao lộ” hàm ý hãy vượt khỏi những giới hạn truyền thống phân biệt giữa dân I-sơ-ra-ên và các dân ngoại. Hãy rao giảng Tin Lành cho muôn dân.

Ma-thi-ơ 22:10

10 Những đầy tớ ấy đã đi khắp những con đường, nhóm lại hết thảy những người họ đã tìm được, cả xấu lẫn tốt; phòng tiệc cưới đã đầy những người dự tiệc.

“Đi khắp những con đường” cũng có nghĩa là đã có mặt ở khắp những giao lộ.

“Nhóm lại hết thảy những người họ đã tìm được” có nghĩa là không bỏ sót một ai mà họ đã gặp. Hành động “nhóm lại” không chỉ là mời, mà là tích cực quy tụ, tập hợp. Nó cho thấy các đầy tớ không chỉ rao ra lời mời, mà còn giúp đỡ, hướng dẫn, và đưa những người được mời vào đúng chỗ. Điều này nói lên bản chất của công tác truyền giáo và môn đồ hóa: không chỉ là thông tin, mà còn là sự đồng hành và dẫn dắt muôn dân vào Vương Quốc Trời.

“Cả xấu lẫn tốt” cho thấy mọi người được mời dự tiệc không do giá trị hay công đức của bản thân mà do lòng hào phóng của nhà vua. Tương tự như vậy, Vương Quốc Trời được mở rộng cho mọi người, từ những tội nhân ở tận cùng đáy xã hội cho tới những người cố gắng sống đạo đức, tốt đẹp. Họ được vào Vương Quốc Trời không phải vì bất cứ một điều gì do nơi bản thân họ mà vì tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho mọi tội nhân. Họ được vào Vương Quốc Trời vì họ tin và tiếp nhận lời mời gọi của Đức Chúa Trời. Điều này triệt để phá đổ mọi sự tự hào về đạo đức cá nhân. Người “tốt” không thể vào nhờ sự tốt của mình, và người “xấu” không bị loại trừ vì sự xấu của mình. Tiêu chuẩn duy nhất là đáp lại lời mời. Điều này làm ứng nghiệm lời phán của Đức Chúa Jesus Christ: “Vì Ta không đến để gọi những người công chính, nhưng để gọi những kẻ có tội” (Ma-thi-ơ 9:13b), đồng thời cũng cảnh cáo những người tự cho mình là “công chính”.

“Phòng tiệc cưới đã đầy những người dự tiệc”. Dù những khách mời ban đầu từ chối không đến nhưng cuối cùng thì phòng tiệc vẫn đầy người. Tinh thần của tiệc cưới không phải là sự có mặt của những ai có địa vị đặc biệt nào đó mà là sự có mặt của bất cứ ai tôn trọng nhà vua, tiếp nhận ân điển của nhà vua, và cùng chung vui với nhà vua. Đức Chúa Trời dựng nên Vương Quốc Trời cho loài người. Vì thế, bất kể họ là người như thế nào, chỉ cần họ thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, thì họ được Đức Chúa Trời làm cho họ xứng đáng với Vương Quốc Trời.

Sự bội nghịch của loài người không thể làm hỏng kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ngài sẽ có một Hội Thánh đông đủ (“đầy”) từ mọi dân tộc, bộ tộc, tiếng nói. Phòng tiệc sẽ không trống. Điều này ứng nghiệm lời hứa với Áp-ra-ham rằng dòng dõi của ông sẽ đông như sao trên trời, một dòng dõi thuộc linh bao gồm tất cả những ai có cùng đức tin nơi Thiên Chúa như ông:

“Vậy, các anh chị em hãy nhận biết rằng, những người có đức tin thì họ là con cháu của Áp-ra-ham.” (Ga-la-ti 3:7).

Tuy nhiên, “đầy” không có nghĩa là “tất cả”. Nó chỉ những người đáp lời mời. Đây vừa là lời hứa về sự thành công của Hội Thánh, vừa là lời cảnh báo về sự phán xét dành cho những người từ chối.

Ma-thi-ơ 22:11-12

11 Vua đã vào xem những người dự tiệc, người nhìn thấy tại đó một người không mặc áo lễ cưới.

12 Người đã phán với kẻ ấy rằng: ‘Hỡi bạn! Sao ngươi vào đây mà không có áo lễ cưới?’ Nhưng kẻ ấy đã im lặng.

Theo phong tục Do-thái thời xưa, đám cưới thường kéo dài bảy ngày, chủ nhà chuẩn bị sẵn áo lễ trắng, gọi là “áo dài trắng sạch” (כְּתֹנֶת חֲלוּצָה) cho tất cả khách mời. Khách chỉ cần đến, nhận áo lễ ở cửa, rồi mặc vào, trước khi vào phòng tiệc. Người cố tình không mặc áo lễ mà vẫn vào dự tiệc là người cố ý sỉ nhục chủ nhà. Các sách rabbi thời Trung Cổ đều nói: “Ai dự tiệc cưới mà không mặc áo trắng sạch là xúc phạm đến cô dâu chú rể”. Ngành khảo cổ đã tìm thấy nhiều áo lễ trắng trong các hang động vào thời kỳ Đền Thờ Thứ Nhì.

Trước khi tiệc cưới bắt đầu, nhà vua đã vào phòng tiệc để xem những người dự tiệc, có lẽ để nói lời hoan nghênh họ. Nhưng vua đã nhìn thấy một người khách không mặc áo lễ cưới.

Chúng ta không biết vì lý do gì người khách ấy đã không mặc áo lễ đã sắm sẵn. Nhưng cho dù vì bất cứ lý do gì thì việc vào dự tiệc cưới do vua mời mà không mặc áo lễ là sự khinh thường và sỉ nhục nhà vua.

Câu hỏi của nhà vua: “Hỡi bạn! Sao ngươi vào đây mà không có áo lễ cưới?” không phải là một câu hỏi thân thiện. Chữ “bạn” được dùng trong câu nói hàm ý mỉa mai: Ta xem khách được mời là bạn nhưng ngươi lại cố ý sỉ nhục ta?

Người khách đã im lặng, không thể trả lời. Vì người ấy biết rõ ý nghĩa sự hành động của mình. Không phải người ấy không có áo lễ để mặc mà là người ấy chọn không mặc, có lẽ là vì kiêu ngạo hoặc vì khinh thường nhà vua.

Áo lễ cưới tiêu biểu cho nếp sống mới được Đức Chúa Trời, qua Đấng Christ, ban cho những ai tin nhận Tin Lành Cứu Rỗi của Ngài. Đó là nếp sống yêu thương, công chính, và thánh khiết. Nếp sống ấy trước hết là sự ban cho của Đức Chúa Trời, kế tiếp, đó là sự con dân Chúa tích cực sống theo Lời Chúa trong danh của Đấng Christ. Nếp sống mới ấy là nếp sống theo gương của Đức Chúa Jesus Christ. Một nếp sống vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ như các thánh đồ trong Kỳ Tận Thế (Khải Huyền 12:17; 14:12).

“Ta hớn hở vui mừng trong Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, linh hồn Ta nhảy mừng trong Thiên Chúa của Ta; vì Ngài đã mặc cho Ta các áo cứu rỗi, đã quấn cho Ta áo choàng công chính, như chàng rể được trang sức như thầy tế lễ với mũ miện lộng lẫy, và như cô dâu tự trang điểm bằng nữ trang của mình.” (Ê-sai 61:10).

“Người nào thắng, người ấy sẽ được mặc trong trang phục trắng. Ta sẽ không xóa tên của người khỏi Sách Sự Sống, nhưng Ta sẽ xưng tên của người trước Cha của Ta, và trước các thiên sứ của Ngài.” (Khải Huyền 3:5).

“Đã được ban cho người để người mặc trang phục mịn, sạch, và trắng. Vì trang phục mịn là những việc làm công chính của những thánh đồ.” (Khải Huyền 19:8).

Người khách không mặc áo lễ cưới tiêu biểu cho những người tin nhận Tin Lành nhưng không sống theo Lời Chúa. Những người ấy không dựa vào sự công chính Chúa ban cho và giữ gìn sự công chính ấy trong đời sống. Họ hoàn toàn dựa vào những việc làm công chính của bản thân. Họ ỷ lại vào các thành quả đã làm ra trong Hội Thánh. Họ không nhận biết rằng, mọi việc làm công chính của loài người sẽ chỉ là áo nhớp rất ô uế, gớm ghiếc trước Đức Chúa Trời (Ê-sai 64:6), nếu không xuất phát từ đức tin và sự vâng phục Lời Chúa.

Những người ấy có mặt trong Hội Thánh theo hình thức bên ngoài. Họ mang danh hiệu là con dân Chúa, muốn sự an toàn thuộc linh, nhưng không muốn từ bỏ ý muốn, lối sống cũ. Họ tin vào công đức bản thân. Họ nghĩ rằng không nhất thiết phải sống theo Lời Chúa mà chỉ cần tích cực trong các mục vụ, linh vụ là đủ tốt. Đây là sự kiêu ngạo tột độ, vì đem so sánh “áo nhớp” của loài người với “áo trắng tinh” được ban cho bởi Đức Chúa Trời, qua Đấng Christ.

Ma-thi-ơ 22:13

13 Khi ấy, vua đã truyền cho những đầy tớ rằng: ‘Hãy trói tay chân nó và ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài. Tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng.’

Câu 13 không còn là lời phán về sự diễn tiến trong ngụ ngôn nữa mà nó là lời cảnh báo nghiêm trọng có tính tiên tri của Đức Chúa Jesus.

Ngài chính là “Vua” của Vương Quốc Trời. Khi thời điểm tới, chính Ngài sẽ sai những thiên sứ của Ngài ném vào hỏa ngục những ai đã tin nhận Tin Lành mà không chịu mặc lấy người mới là sự công chính mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ, qua sự chết chuộc tội của chính Ngài.

“Ở bên ngoài” là ở bên ngoài Vương Quốc Trời, là hỏa ngục, còn gọi là hồ lửa. Khải Huyền cho biết nhiên liệu của hỏa ngục là lưu huỳnh. Lưu huỳnh khi cháy phát ra ánh sáng xanh tái với mùi hôi nồng nặc, và khói đen đậm đặc. Vì thế, dù là trong hồ lửa nhưng thiếu ánh sáng, khi khói đen lan tỏa mù mịt. Cụm từ “ở bên ngoài” thật kinh khiếp. “Ở bên ngoài” không chỉ là một địa điểm, mà còn là một tình trạng thực hữu: bị xa cách hoàn toàn khỏi sự hiện diện của Thiên Chúa, là nguồn sáng, tình yêu, và sự sống. Đó là bản chất thực sự của hỏa ngục.

Mệnh đề “Tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng” bao gồm nhiều cảm xúc và trạng thái cùng lúc. Sự khóc lóc là sự khóc lớn tiếng để mong giảm bớt sự đau đớn. Sự nghiến răng là cách thức ráng chịu đựng sự đau đớn hoặc sự căm tức. Sự khóc lóc và nghiến răng trong hỏa ngục đối với một số người có thể là sự hối tiếc muộn màng vì đã bỏ qua ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời, khi còn có cơ hội tiếp nhận. Trong khi đối với Sa-tan, các thiên sứ phạm tội, và một số người khác có lẽ là vì sự căm tức, oán hận, chống nghịch đến cùng. Mẫu số chung cho cả hai là sự tuyệt vọng hoàn toàn, vì họ đều biết hình phạt trong hỏa ngục là hình phạt đời đời:

“Họ sẽ bị hình phạt hư mất mãi, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của sức mạnh Ngài…” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9).

“Sự khóc lóc và sự nghiến răng” là âm thanh đặc trưng của hỏa ngục, âm thanh của sự hư mất. Đức Chúa Jesus đã bảy lần dùng chính xác nhóm chữ này để cảnh báo loài người về sự đau khổ đời đời trong hỏa ngục: Ma-thi-ơ 8:12; 13:42, 50; 22:13; 24:51; 25:30; và Lu-ca 13:28.

Chúng ta hãy chú ý sự tương phản kinh hoàng trong hành động của nhà Vua:

  • Trong câu 10: Vua sai đầy tớ đi “nhóm lại” mọi người vào phòng tiệc. Đó là hành động của ân điển và sự quy tụ.

  • Trong câu 13: Vua sai đầy tớ “trói tay chân và ném ra”. Đó là hành động của sự phán xét và loại trừ.

Cùng một vị Vua. Cùng những đầy tớ. Cùng một căn phòng tiệc. Nhưng hai số phận đối nghịch hoàn toàn, dựa trên một tiêu chuẩn: chiếc áo lễ.

Bài học của ngụ ngôn này là:

  • Sự Hiện Diện Trong Hội Thánh Không Đảm Bảo Sự Cứu Rỗi. Người không mặc áo lễ đã ở trong phòng tiệc, giữa những khách khác. Anh ta không bị loại ngay từ cửa. Điều này cảnh báo những ai an tâm vì mình là “thành viên” của Hội Thánh, được làm báp-tem, được tham dự các nghi lễ, các mục vụ và các linh vụ.

  • Ân Điển Đòi Hỏi Sự Đáp Ứng Chân Thật. Chiếc áo lễ (sự công chính của Đấng Christ) được ban cho miễn phí, nhưng phải được mặc lấy. Sự đáp ứng đó là đức tin chân thật, một đức tin thể hiện thành hành động qua sự ăn năn, đầu phục, và sống một đời sống được biến đổi (Gia-cơ 2:14-26). Đức tin không có việc làm là đức tin chết, như chiếc áo lễ không được mặc.

  • Sự Phán Xét Là Cá Nhân và Cuối Cùng. Vua “vào xem” và phát hiện ra cá nhân không mặc áo lễ. Sự phán xét là kỹ lưỡng và cá nhân. Và khi đã được đưa ra, nó là cuối cùng với hậu quả: bị ném ra ngoài!

Thực tế, rất nhiều người mang danh là con dân Chúa vẫn đang nhởn nhơ “không mặc chiếc áo công chính” mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Họ tự mãn với những sự dâng hiến, đóng góp công sức vào trong các mục vụ và linh vụ của Hội Thánh. Thậm chí, họ còn là những người giảng dạy Lời Chúa, mang các chức vụ trong Hội Thánh, và họ tự mãn với những “thành tích” của họ. Đó là vì họ đã không lắng lòng, đối diện với Lời Chúa để hiểu rõ ý nghĩa của sự được cứu rỗi.

Sự kết thúc của ngụ ngôn không phải để chúng ta kết án người khác, mà để mỗi chúng ta run rẩy trước Lời Chúa và xét lại chính mình. Lời cảnh báo kinh hoàng nhất trong ngụ ngôn này không dành cho những người ngoài đường (những người chưa tin nhận Tin Lành), mà dành cho những người đã bước vào phòng tiệc mà không mặc áo lễ, những người đang có mặt trong Hội Thánh.

Lời mời gọi khẩn thiết của chính Đức Chúa Jesus Christ từ gần hai ngàn năm qua vẫn còn đó:

“Ta khuyên ngươi hãy mua từ nơi Ta vàng đã thử bởi lửa để ngươi được giàu có, trang phục trắng để ngươi được mặc và nỗi hổ thẹn về sự lõa lồ của ngươi không lộ ra. Hãy thoa mắt ngươi với thuốc thoa mắt để ngươi được thấy. Bất cứ ai, nếu Ta yêu, Ta quở trách và sửa phạt. Vậy, hãy sốt sắng và cải hối. Này, Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Nếu ai nghe tiếng của Ta mà mở cửa, Ta sẽ vào với người, sẽ ăn bữa tối với người, và người với Ta.” (Khải Huyền 3:18-20).

Chúng tôi rất mong rằng bài giảng này sẽ được phổ biến rộng khắp trong cộng đồng con dân Chúa ở mọi nơi. Chúng tôi mong rằng ý nghĩa của ngụ ngôn này sẽ đem lại sự phục hưng lớn trong Hội Thánh.

Ma-thi-ơ 22:14

14 Vì nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn.”

Động từ “được gọi” có nghĩa là được lời mời công khai, rõ ràng, hợp pháp.

Động từ “được chọn” có nghĩa là được lựa ra và chọn lấy một cách có chủ ý.

Nhiều người được gọi đến với ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời để được vào trong Vương Quốc Trời. Lời mời gọi đó chính là những lời rao giảng của Đức Chúa Jesus Christ, của các sứ đồ, và của những môn đồ của Ngài. Lời kêu gọi là hãy ăn năn sự phạm các điều răn của Đức Chúa Trời và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ.

“Hãy đến với Ta! Hết thảy những ai mệt mỏi và gánh nặng! Ta sẽ cho các ngươi sự yên nghỉ.” (Ma-thi-ơ 11:28).

“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như một số người tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng khoan nhẫn đối với chúng ta, không muốn cho một người nào chết mất, nhưng muốn cho mọi người đều ăn năn.” (II Phi-e-rơ 3:9).

Người được chọn là người đáp lại lời mời gọi bằng hành động: ăn năn tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Đấng Christ, mặc lấy sự công chính Đức Chúa Trời ban cho để sống nếp sống mới. Đó là nếp sống phản chiếu sự yêu thương, công chính, và thánh khiết của Thiên Chúa, tức là nếp sống đúng theo Lời Chúa. Điều này được minh họa bởi hình ảnh chiếc áo lễ trong ngụ ngôn: vừa là món quà được nhận, vừa là trang phục phải mặc. Sự “được chọn” không phải là một trạng thái thụ động, mà được chứng minh bằng một đời sống đáp ứng với ân điển.

Người không được chọn là người khinh bỏ lời mời, như đa số dân I-sơ-ra-ên từ chối Đấng Christ, hoặc là người tin nhận Đấng Christ nhưng không thật lòng ăn năn, không từ bỏ nếp sống cũ, để sống nếp sống mới theo Lời Chúa. Họ dựa vào công sức riêng để mong được vào Vương Quốc Trời.

Lời cảnh báo “ít người được chọn” không phải để chúng ta thụ động hay hoang mang, mà để:

  • Phá vỡ sự tự mãn tập thể: nghĩ rằng vì mình thuộc về một nhóm tôn giáo hay mình đang ở trong Hội Thánh nên mình tự động được cứu.

  • Thúc đẩy sự tỉnh thức cá nhân: “Vậy, hỡi các anh chị em cùng Cha! Hãy siêng năng, làm cho chắc chắn về sự kêu gọi và lựa chọn của mình. Vì nếu các anh chị em làm những điều này thì các anh chị em sẽ không hề vấp ngã.” (II Phi-e-rơ 1:10).

  • Nhấn mạnh sự nghiêm túc của đức tin: Đây không phải là việc gia nhập một tôn giáo, một nhóm người đặc biệt nào mà là bước vào một mối quan hệ giao ước với Thiên Chúa, biến đổi đời sống.

Câu hỏi dành cho mỗi người mang danh là con dân Chúa:

  • Tôi đã được gọi nhưng tôi đã được chọn chưa? Dấu hiệu của sự được chọn không phải là cảm giác, mà là sự đáp ứng. Nếu tôi đang thực sự ăn năn, tin cậy nơi Đấng Christ, và khao khát vâng theo Ngài, dù vẫn còn vấp ngã, thì đó là bằng chứng của sự sống mới. “Hãy tự xét, nếu các anh chị em ở trong đức tin! Hãy tự chứng minh! Hay các anh chị em không nhận biết chính mình; vì Đức Chúa Jesus Christ ở trong các anh chị em, nếu chẳng phải các anh chị em là không xứng đáng về sự gì.” (II Cô-rinh-tô 13:5).

  • Tôi đã làm chết con người cũ và mặc lấy con người mới là chính Đấng Christ chưa? Đây là một tiến trình (Rô-ma 6:6, Ê-phê-sô 4:22-24). Câu hỏi là: Đời sống của tôi đang đi về đâu? Tôi có thấy mình ngày càng ít thỏa hiệp với tội lỗi, và ngày càng mong muốn giống Đấng Christ càng hơn không? Sự tranh chiến với tội lỗi là một dấu hiệu của sự sống.

  • Tôi hoàn toàn dựa vào máu chuộc tội của Đấng Christ để được xưng là công chính hay tôi dựa vào những việc lành do mình làm ra? Câu trả lời nằm ở nơi tôi tìm kiếm sự an toàn và hy vọng. Khi bị cáo buộc bởi tội lỗi, tôi chạy về đâu? Về thập tự giá hay về bảng thành tích của mình? Người dựa vào việc lành sẽ hoặc là kiêu ngạo khi làm tốt, hoặc là tuyệt vọng khi thất bại. Người dựa vào thập tự giá luôn khiêm nhường, vì biết mình được tha thứ, và hy vọng, vì biết ân điển đủ cho mình.

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
13/12/2025

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Con Tin Cậy Ngài”:

https://karaokethanhca.net/con-tin-cay-ngai/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/