YouTube: https://youtu.be/GyjLn_WJxR0
Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL125 Sự Nộp Thuế cho Sê-sa
Ma-thi-ơ 22:15-22; Mác 12:13-17; Lu-ca 20:20-26
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
- SoundCloud: Bấm vào đây
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
Kho chứa MP3 các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Kho chứa pdf các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Ma-thi-ơ 22:15-22
15 Bấy giờ, những người Pha-ri-si đã đi ra, lập mưu để họ có thể gài bẫy Ngài trong lời nói.
16 Họ đã sai đi những môn đồ của mình cùng những kẻ thuộc đảng Vua Hê-rốt đến, thưa với Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết Ngài là chân thật, và Ngài dạy Đạo của Đức Chúa Trời trong lẽ thật, Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai, vì Ngài không xem bề ngoài của loài người. {Mệnh đề “Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai” hàm ý Đức Chúa Jesus không thiên vị ai.}
17 Vậy, xin nói cho chúng tôi biết Ngài nghĩ thế nào? Có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không?”
18 Nhưng Đức Chúa Jesus đã biết sự xấu ác của họ, Ngài đã đáp rằng: “Sao các ngươi thử Ta? Hỡi những kẻ giả hình!
19 Hãy đưa cho Ta đồng tiền nộp thuế.” Họ đã đưa cho Ngài một đơ-ni-ê.
20 Ngài hỏi họ: “Hình này là của ai? Và chữ khắc này là của ai?”
21 Họ thưa với Ngài: “Của Sê-sa.” Bấy giờ, Ngài phán với họ: “Vậy, hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.”
22 Nghe vậy họ đã bỡ ngỡ. Họ đã để Ngài lại, bỏ đi.
Mác 12:13-17
13 Kế đó, họ đã sai mấy người thuộc về phái Pha-ri-si và đảng Hê-rốt đến với Ngài để họ bắt lỗi Ngài trong lời nói.
14 Vậy, mấy người ấy đã đến, thưa với Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết Ngài là chân thật, Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai, vì Ngài không xem bề ngoài của loài người {Hàm ý: Đức Chúa Jesus không thiên vị.} nhưng dạy Đạo của Đức Chúa Trời trên lẽ thật. Có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không? Chúng tôi nên nộp hay không nộp?”
15 Nhưng Ngài đã biết sự giả hình của họ, Ngài đã phán với họ: “Sao các ngươi thử Ta? Hãy đem cho Ta một đơ-ni-ê để Ta xem.”
16 Họ đã đem nó cho Ngài. Ngài hỏi họ: “Hình này và chữ khắc này là của ai?” Họ đã trả lời Ngài: “Của Sê-sa.”
17 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.” Họ đã lấy làm lạ về Ngài.
Lu-ca 20:20-26
20 Họ đã canh chừng Ngài, sai mấy kẻ do thám tự mình giả làm người lương thiện, bắt bẻ lời nói của Ngài để nộp Ngài cho quyền cai trị và xét xử của thống đốc.
21 Họ đã hỏi Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy nói và dạy dỗ cách ngay thẳng, không tiếp nhận bề ngoài của ai, nhưng dạy Đạo của Đức Chúa Trời trên lẽ thật. {Thành ngữ “không tiếp nhận bề ngoài” có nghĩa là “không thiên vị.”}
22 Chúng tôi có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không?”
23 Nhưng Ngài biết mưu kế của họ nên đã trả lời họ:
24 “Hãy cho Ta xem một đơ-ni-ê. Nó có hình và chữ khắc của ai?” Họ đã đáp: “Của Sê-sa.”
25 Ngài đã phán với họ: “Vậy, hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.”
26 Trước mặt dân chúng, họ đã không thể bắt lỗi lời phán của Ngài. Họ ngạc nhiên về câu trả lời của Ngài và họ giữ im lặng.
Trong bài này, chúng ta sẽ học về sự giới lãnh đạo Do-thái Giáo lập mưu, gài bẫy Đức Chúa Jesus để cáo buộc Ngài là kẻ chống nghịch nhà cầm quyền La-mã. Sự việc đã xảy ra sau khi Đức Chúa Jesus phán dạy họ và cả dân chúng liên tiếp ba ngụ ngôn mà chúng ta đã học trong hai bài trước.
Ma-thi-ơ 22:15-17
15 Bấy giờ, những người Pha-ri-si đã đi ra, lập mưu để họ có thể gài bẫy Ngài trong lời nói.
16 Họ đã sai đi những môn đồ của mình cùng những kẻ thuộc đảng Vua Hê-rốt đến, thưa với Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết Ngài là chân thật, và Ngài dạy Đạo của Đức Chúa Trời trong lẽ thật, Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai, vì Ngài không xem bề ngoài của loài người. {Mệnh đề “Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai” hàm ý Đức Chúa Jesus không thiên vị ai.}
17 Vậy, xin nói cho chúng tôi biết Ngài nghĩ thế nào? Có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không?”
Mác 12:13-14
13 Kế đó, họ đã sai mấy người thuộc về phái Pha-ri-si và đảng Hê-rốt đến với Ngài để họ bắt lỗi Ngài trong lời nói.
14 Vậy, mấy người ấy đã đến, thưa với Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết Ngài là chân thật, Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai, vì Ngài không xem bề ngoài của loài người {Hàm ý: Đức Chúa Jesus không thiên vị.} nhưng dạy Đạo của Đức Chúa Trời trên lẽ thật. Có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không? Chúng tôi nên nộp hay không nộp?”
Lu-ca 20:20-22
20 Họ đã canh chừng Ngài, sai mấy kẻ do thám tự mình giả làm người lương thiện, bắt bẻ lời nói của Ngài để nộp Ngài cho quyền cai trị và xét xử của thống đốc.
21 Họ đã hỏi Ngài rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy nói và dạy dỗ cách ngay thẳng, không tiếp nhận bề ngoài của ai, nhưng dạy Đạo của Đức Chúa Trời trên lẽ thật. {Thành ngữ “không tiếp nhận bề ngoài” có nghĩa là “không thiên vị.”}
22 Chúng tôi có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không?”
Có lẽ giới lãnh đạo Do-thái Giáo, bao gồm những người Pha-ri-si, những thầy thông giáo, và các trưởng lão, đã tạm thời rút lui, sau khi nghe Đức Chúa Jesus phán dạy ngụ ngôn về tiệc cưới. Có lẽ họ cũng rất căm phẫn, khi bị Ngài hàm ý là họ sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Vì thế, họ đã cho người theo dõi để biết Đức Chúa Jesus có mặt nơi nào, rồi liên kết với đảng Hê-rốt, sai một số tay sai của hai bên đến để gài bẫy Ngài.
Danh từ “đảng Hê-rốt” chỉ về những người ủng hộ gia tộc của Hê-rốt, từ thời Hê-rốt Đại Đế, người đã tàn sát trẻ con từ hai tuổi trở xuống, khi hay tin Đức Chúa Jesus đã được sinh ra. Vào thời của Đức Chúa Jesus thì Hê-rốt An-ti-ba, con trai thứ tư của Hê-rốt Đại Đế, đang cầm quyền. Ông là người đã ra lệnh chém đầu Giăng Báp-tít.
Đảng Hê-rốt không phải là một đảng phái tôn giáo như phái Pha-ri-si, mà là một đảng chính trị. Họ chủ trương hợp tác với Đế Quốc La-mã để duy trì quyền lực của nhà Hê-rốt. Họ xem đó là cách tốt nhất để giữ một phần tự trị cho dân I-sơ-ra-ên, thay vì chống nghịch chính quyền La-mã. Vì dân I-sơ-ra-ên vẫn được chính quyền La-mã cho tự trị trong các vấn đề liên quan Do-thái Giáo. Những người theo đảng Hê-rốt thường bị dân I-sơ-ra-ên xem là đã Hy-lạp hóa (Hellenistic), tức là sống theo văn hóa của dân Hy-lạp, chấp nhận một số phong tục La-mã, và ủng hộ nộp thuế cho Sê-sa để duy trì sự ổn định chính trị. Họ thường đối lập với phái Pha-ri-si về mặt chính trị. Những người Pha-ri-si muốn dân I-sơ-ra-ên được độc lập hoàn toàn nhưng đảng Hê-rốt thì muốn duy trì vương quyền của nhà Hê-rốt, dưới sự bảo hộ của La-mã. Những người thuộc đảng Hê-rốt là những người thực dụng chính trị, sẵn sàng thỏa hiệp với La-mã để giữ vững quyền lợi.
Tuy nhiên, vào thời điểm xảy ra sự việc chúng ta đang học thì đảng Hê-rốt và phái Pha-ri-si tạm thời liên minh để chống lại Đức Chúa Jesus, vì Ngài đe dọa quyền lực của cả hai. Với đảng Hê-rốt, Đức Chúa Jesus bị xem là mối nguy gây bất ổn chính trị, có thể dẫn đến sự chính quyền La-mã can thiệp mạnh hơn. Với phái Pha-ri-si, Đức Chúa Jesus thách thức quyền uy tôn giáo của họ.
Có thể những tay sai của phái Pha-ri-si phụ trách theo dõi bước đi của Đức Chúa Jesus, còn những tay sai của đảng Hê-rốt thì giả dạng như những người dân lương thiện để gài bẫy Ngài. Khi câu hỏi gài bẫy được đặt ra cho Đức Chúa Jesus thì tay sai của hai bên đều có mặt.
Theo ghi chép của Ma-thi-ơ thì có lẽ câu hỏi gài bẫy Đức Chúa Jesus là do những người Pha-ri-si nghĩ ra, trong khi họ họp nhau, bàn bạc âm mưu để đối phó Ngài. Họ đã tận dụng yếu tố tâm lý khen dồi kẻ thù để kẻ thù mất cảnh giác, trước khi họ giương lên cái bẫy tinh vi để hại kẻ thù. Tuy nhiên, các lời họ khen Đức Chúa Jesus hoàn toàn đúng với thực tế. Đức Chúa Jesus thật sự là người chân thật trong đời sống và Ngài rao giảng về ý muốn của Đức Chúa Trời trong lẽ thật.
“Ngài là chân thật” có nghĩa Đức Chúa Jesus là người đáng tin cậy. Ngài không vi phạm các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, trong Ngài không có sự dối trá, như lời tiên tri về Ngài trong Ê-sai 53:9. Về sau, Đức Thánh Linh, qua Sứ Đồ Phi-e-rơ, đã khẳng định rằng:
“Ngài không làm ra tội, trong miệng Ngài không tìm thấy sự gian trá.” (I Phi-e-rơ 2:22).
Theo Do-thái Giáo, người chân thật là người trung tín với Giao Ước của Đức Chúa Trời, tức là giữ trọn luật pháp Đức Chúa Trời. Người ấy nói ra lẽ thật của Thánh Kinh và nếp sống của người ấy đúng theo lời người ấy nói. Vì thế, người ấy đáng được tin cậy trong mọi lời nói.
Đức Chúa Jesus không chỉ nói thật mà Ngài chính là hiện thân của lẽ thật. Đức Chúa Jesus không chỉ vâng giữ trọn vẹn các điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời mà Ngài là người làm ứng nghiệm và hoàn tất ý nghĩa đích thực của luật pháp (Ma-thi-ơ 5:17). Sự vâng phục của Ngài là chủ động, trọn vẹn, và từ trong tấm lòng. Sự vô tội của Ngài không chỉ là “không làm ác”, mà là sự thánh khiết tích cực và trọn vẹn, luôn nói những lời lành và làm những việc lành. Đời sống của Ngài là một đời sống hoàn toàn đẹp ý Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ và Mác ghi: “Ngài cũng không quan tâm về bất cứ ai, vì Ngài không xem bề ngoài của loài người.” có nghĩa là không đánh giá bất cứ ai theo vẻ bên ngoài của họ. Có lẽ đây là nguyên văn lời nói của những kẻ đã gài bẫy Đức Chúa Jesus. Họ đã diễn giải ý nghĩa của thành ngữ “không tiếp nhận bề ngoài”, có nghĩa là “không thiên vị.” Lu-ca đã tóm gọn câu nói của họ trong thành ngữ. Sứ Đồ Phao-lô cũng dùng cách nói này trong Ga-la-ti 2:6: “Thiên Chúa không chấp nhận bề ngoài của loài người.”
Không thiên vị có nghĩa là không vị nể vì tình cảm riêng tư, quyền thế, giai cấp, hoàn cảnh, hay vì bất cứ điều gì của bất cứ ai.
Chữ “Đạo” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh chỉ về “lối đi”, theo nghĩa đen; còn theo nghĩa bóng thì chỉ về “nếp sống”. “Đạo của Đức Chúa Trời” không có nghĩa là tôn giáo thờ phượng Đức Chúa Trời mà là nếp sống theo đường lối của Đức Chúa Trời. Đường lối ấy được chép trong Thánh Kinh, được rao giảng bởi các tiên tri của Đức Chúa Trời, và bởi chính Đấng Christ. Ngày nay, đường lối ấy được rao giảng bởi Hội Thánh. Đường lối ấy chính là Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và tất cả các khuôn phép, mẫu mực khác trong Thánh Kinh. Sự sống theo đường lối của Đức Chúa Trời chính là sự thờ phượng Ngài cách chân thật.
Đức Chúa Jesus chính là “Đạo của Đức Chúa Trời”. Ngài xưng mình là “Đường Đi, Lẽ Thật, và Sự Sống” (Giăng 14:6). Lời phán ấy có nghĩa là: Chỉ có một con đường, một nếp sống để đến với Đức Chúa Trời, ấy là tin nhận Đức Chúa Jesus. Mọi lẽ thật về Thiên Chúa chỉ có thể tìm thấy, khi tin nhận Đức Chúa Jesus. Sự sống lại và sự sống đời đời chỉ có được, khi tin nhận Đức Chúa Jesus.
Người tin nhận Đức Chúa Jesus là người tin mọi lời phán của Ngài và cẩn thận làm theo. Hành động tin và làm theo đó khiến cho người tin nhận được ơn tha thứ mọi tội lỗi bởi Đức Chúa Trời, được Đức Thánh Linh giúp cho hiểu biết mọi lẽ thật của Lời Chúa, và được Đấng Christ ban cho chính sự sống thánh khiết của Ngài.
“Ngài dạy Đạo của Đức Chúa Trời trong lẽ thật” có nghĩa là Đức Chúa Jesus dạy về nếp sống theo ý muốn của Đức Chúa Trời một cách hoàn toàn đúng với chính thực tại của Đức Chúa Trời. Sự dạy dỗ của Ngài thấm nhuần bởi lẽ thật, mang bản chất của lẽ thật. Sự dạy dỗ của Ngài không thể tách rời khỏi lẽ thật. Lẽ thật vừa là môi trường vừa là chất liệu của mọi lời phán dạy của Ngài. Lẽ thật ấy chính là ý muốn và mệnh lệnh của Đức Chúa Trời.
Mác và Lu-ca đều ghi là “Ngài dạy Đạo của Đức Chúa Trời trên lẽ thật”, có nghĩa là Đức Chúa Jesus giảng dạy về đường lối của Đức Chúa Trời dựa trên lẽ thật. Cách ghi này hướng về thẩm quyền giảng dạy của Đức Chúa Jesus hơn.
Có thể Ma-thi-ơ là người có mặt khi sự việc xảy ra nên ông ghi lại trung thực lời nói của những kẻ thử Chúa. Còn Mác và Lu-ca thì ghi lại theo lời tường thuật của các chứng nhân. Lời tường thuật của các chứng nhân thường pha thêm sự nhận định và sự hiểu biết của họ. Dù vậy, những lời chứng của họ không sai lạc ý nghĩa của câu nói nguyên văn.
Về câu hỏi của những người gài bẫy Đức Chúa Jesus, có lẽ Ma-thi-ơ ghi lại nguyên văn của câu hỏi: “Vậy, xin nói cho chúng tôi biết Ngài nghĩ thế nào? Có được phép nộp thuế cho Sê-sa hay không?” Còn Mác và Lu-ca thì ghi lại theo lời tường thuật của những chứng nhân. Chúng ta thấy rõ dù các câu văn có khác về hình thức nhưng nội dung thì hoàn toàn giống nhau.
Động từ “được phép” trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh cũng có nghĩa là hợp với luật pháp của Đức Chúa Trời. Động từ này từng được những người Pha-ri-si dùng để quở trách các môn đồ của Đức Chúa Jesus “làm sự không hợp pháp để làm trong ngày Sa-bát”, khi các môn đồ bứt bông lúa để ăn (Ma-thi-ơ 12:2; Mác 2:24; Lu-ca 6:2). Đức Chúa Jesus đã trả lời họ: “làm việc lành trong những ngày Sa-bát là hợp pháp” (Ma-thi-ơ 12:12).
Vì vậy, hàm ý của câu hỏi gài bẫy là: “Theo luật pháp của Đức Chúa Trời thì chúng tôi, những người I-sơ-ra-ên, có được phép nộp thuế cho Sê-sa không?” Mục đích của những kẻ hỏi là buộc Đức Chúa Jesus phải trả lời trong danh của Đức Chúa Trời. Câu trả lời trong danh của Đức Chúa Trời có thể bắt đầu bằng: “Theo luật pháp…”.
“Sê-sa” là danh hiệu của các hoàng đế La-mã. Ban đầu, đó là họ của Hoàng Đế Gaius Julius Caesar (100–44 TCN). Sau khi ông qua đời, con nuôi ông là Octavian kế vị và lấy danh xưng: Imperator Caesar Augustus (Hoàng Đế Sê-sa Au-gút-tơ, 27 TCN–14 CN). Từ đó, “Sê-sa” trở thành tước hiệu của các hoàng đế La-mã, không còn là tên họ. Khi Đức Chúa Jesus được sinh ra thì Sê-sa Au-gút-tơ đang cầm quyền. Chiếu chỉ thống kê dân số của ông đã khiến cho Giô-sép và Ma-ri về lại Bết-lê-hem để ghi danh vào sổ bộ. Vào lúc câu hỏi gài bẫy được đặt ra cho Đức Chúa Jesus thì Sê-sa Ti-be-rơ (14–37) đang cầm quyền (Lu-ca 3:1).
Có lẽ khi những người Pha-ri-si nghĩ ra câu hỏi gài bẫy này, họ đã tin chắc rằng Đức Chúa Jesus sẽ bị sập bẫy.
Nếu Đức Chúa Jesus trả lời là không được phép nộp thuế thì những kẻ theo đảng Hê-rốt có lý do chính đáng để bắt Ngài và giao nộp cho chính quyền La-mã với tội danh chống nghịch chính quyền. Đó là tội chết.
Nếu Đức Chúa Jesus trả lời là được phép nộp thuế thì những tay sai của phái Pha-ri-si sẽ kêu gọi dân chúng ném đá Ngài, vì Ngài ủng hộ việc dân ngoại bang áp bức dân I-sơ-ra-ên. Việc công khai ủng hộ việc đóng thuế cho kẻ xâm lược sẽ bị dân I-sơ-ra-ên xem là phản bội dân tộc và cộng tác với kẻ thù.
Điều đó có nghĩa là cho dù Đức Chúa Jesus trả lời “được phép” hay “không được phép” thì họ cũng có thể loại trừ Ngài ngay lập tức.
Cái bẫy do họ lập ra buộc Đức Chúa Jesus phải định vị mình trong thế lưỡng cực mà họ đã dựng lên:
-
Hoặc là một nhà cách mạng chính trị (chống La-mã), chắc chắn sẽ bị La-mã tiêu diệt.
-
Hoặc là một kẻ hợp tác với ngoại bang (thân La-mã), chắc chắn sẽ bị chính dân tộc mình từ bỏ và trừng phạt.
Cả hai lựa chọn này đều đóng khung sứ mệnh của Ngài trong phạm vi trần thế và chính trị, trong khi sứ mệnh thiên thượng của Ngài là “tìm và cứu sự đã bị mất” (Lu-ca 19:10) để thiết lập Vương Quốc của Đức Chúa Trời.
Ma-thi-ơ 22:18-21
18 Nhưng Đức Chúa Jesus đã biết sự xấu ác của họ, Ngài đã đáp rằng: “Sao các ngươi thử Ta? Hỡi những kẻ giả hình!
19 Hãy đưa cho Ta đồng tiền nộp thuế.” Họ đã đưa cho Ngài một đơ-ni-ê.
20 Ngài hỏi họ: “Hình này là của ai? Và chữ khắc này là của ai?”
21 Họ thưa với Ngài: “Của Sê-sa.” Bấy giờ, Ngài phán với họ: “Vậy, hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.”
Mác 12:15-17
15 Nhưng Ngài đã biết sự giả hình của họ, Ngài đã phán với họ: “Sao các ngươi thử Ta? Hãy đem cho Ta một đơ-ni-ê để Ta xem.”
16 Họ đã đem nó cho Ngài. Ngài hỏi họ: “Hình này và chữ khắc này là của ai?” Họ đã trả lời Ngài: “Của Sê-sa.”
17 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.” Họ đã lấy làm lạ về Ngài.
Lu-ca 20:23-25
23 Nhưng Ngài biết mưu kế của họ nên đã trả lời họ:
24 “Hãy cho Ta xem một đơ-ni-ê. Nó có hình và chữ khắc của ai?” Họ đã đáp: “Của Sê-sa.”
25 Ngài đã phán với họ: “Vậy, hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa, và hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.”
Ma-thi-ơ dùng cách viết: “Đức Chúa Jesus đã biết sự xấu ác của họ” và gọi họ là những kẻ giả hình. Mác dùng cách viết: “Ngài đã biết sự giả hình của họ”. Lu-ca thì viết: “Ngài biết mưu kế của họ”. Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: Làm sao họ biết Đức Chúa Jesus nghĩ gì, cảm nhận gì, khi không có chỗ nào nói là Ngài đã nói ra miệng sự cảm nhận hay sự suy nghĩ của Ngài? Và tại sao ba người lại ghi chép khác nhau?
Chúng ta có thể hiểu rằng sau khi sự việc xảy ra, Đức Chúa Jesus đã có thời gian trò chuyện với các môn đồ và Ngài đã xác nhận rằng Ngài biết những kẻ đặt câu hỏi là những kẻ xấu ác, giả hình, và câu hỏi của họ là mưu kế để gài bẫy Ngài. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng khi Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca ghi lại sự việc thì Đức Thánh Linh đã thần cảm cho họ biết như vậy.
Sự ghi chép khác nhau của ba người cũng có thể được hiểu là do sự thần cảm của Đức Thánh Linh để họ dùng các từ ngữ khác nhau, nhằm nhấn mạnh về mỗi khía cạnh khác nhau của cùng một tấm lòng gian ác. Những kẻ gài bẫy Chúa là những người gian ác mà làm bộ lương thiện nên họ là những kẻ giả hình. Câu hỏi của họ đưa ra không phải để tìm biết lẽ thật mà để gài bẫy hại Chúa nên đó là sự họ dùng mưu kế.
Câu hỏi của Đức Chúa Jesus: “Sao các ngươi thử Ta?” đã khẳng định rằng Ngài biết rõ thâm ý của họ.
Ngài yêu cầu họ đưa ra cho Ngài xem đồng tiền dùng để nộp thuế cho Sê-sa. Họ đã đưa ra đồng đơ-ni-ê.
Nguồn: https://www.baldwin.co.uk/wp-content/uploads/2022/08/C223004321-1-20220825090152.jpg
https://timhieuthanhkinh.com/wp-content/uploads/2025/12/C223004321-1-20220825090152.jpg
Đồng tiền đơ-ni-ê là đơn vị tiền tiêu chuẩn của La-mã trong thời Tân Ước. Nó có giá trị tương đương tiền công cho một ngày lao động của một người làm thuê thông thường, một người lính, hoặc một lao động nông nghiệp (như được đề cập trong ngụ ngôn những người làm việc trong vườn nho, Ma-thi-ơ 20:2-13).
Đồng đơ-ni-ê lưu hành vào thời Đức Chúa Jesus, dưới thời Hoàng Đế Ti-be-rơ, thường có các đặc điểm sau:
-
Mặt trước: Khắc hình chân dung của Hoàng Đế Sê-sa Ti-be-rơ, đội vòng nguyệt quế, kèm dòng chữ La-tinh: “TI[BERIVS] CAESAR DIVI AVG[VSTI] F[ILIVS] AVGVSTVS” (“Ti-be-rơ Sê-sa, Con của Au-gút-tơ thần thánh, Au-gút-tơ”). Dòng chữ này không chỉ xác nhận quyền lực chính trị mà còn khẳng định địa vị “thần thánh” của Ti-be-rơ với tư cách là con của một vị thần (Au-gút-tơ đã được Viện Nguyên Lão La-mã phong thần).
-
Mặt sau: Khắc hình một phụ nữ ngồi trên ngai (thường được cho là Livia, mẹ của Ti-be-rơ, được mô tả như một vị thần, hoặc là Pax, Nữ Thần Hòa Bình), với dòng chữ: “PONTIF[MAXIM]” (“Thầy Tế Lễ Tối Cao”). Điều này tuyên bố Ti-be-rơ là nhà lãnh đạo tôn giáo tối cao của toàn Đế Quốc La-mã.
Khi Đức Chúa Jesus yêu cầu: “Hãy đưa cho Ta đồng tiền nộp thuế”, những kẻ gài bẫy Ngài đã đưa cho Ngài một đồng đơ-ni-ê. Có lẽ Ngài đã cầm đồng tiền lên, đưa mặt có hình hoàng đế hướng về họ và hỏi: “Hình này là của ai? Và chữ khắc này là của ai?” Câu hỏi này đặt những người Pha-ri-si, vốn tự hào về sự thuần khiết tôn giáo, vào một tình thế hết sức mâu thuẫn:
-
Họ buộc phải thừa nhận: “Của Sê-sa”. Điều này hiển nhiên, không thể chối cãi.
-
Nhưng chính sự thừa nhận ấy lại tố cáo họ: Họ đang mang trong mình và sử dụng một vật phẩm mang hình ảnh và danh hiệu của một con người tự xưng là thần, vi phạm nghiêm trọng điều răn chống lại thờ hình tượng (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4). Hơn nữa, đồng tiền còn tuyên bố Sê-sa là “Thầy Tế Lễ Tối Cao”, một chức vụ mà theo truyền thống Do-thái chỉ thuộc về dòng dõi A-rôn và biểu trưng cho quyền tế lễ độc nhất dành cho Đức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên.
Câu hỏi tưởng chừng đơn giản của Đức Chúa Jesus thật ra đã phơi bày sự giả hình và thỏa hiệp của chính những kẻ đang cáo buộc Ngài. Họ dùng tiền của Sê-sa, thừa nhận hệ thống kinh tế của ông, nhưng lại muốn dùng luật của Đức Chúa Trời để buộc tội người khác về việc sử dụng đồng tiền ấy. Điều này khiến cho câu trả lời của Ngài: “Vậy, hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa” càng thêm sâu sắc và có sức nặng.
Nhưng Đức Chúa Jesus đã không dừng lại tại đó. Ngài còn nhắc nhở họ hãy làm tròn bổn phận của họ với Đức Chúa Trời. Họ phải trả lại cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời.
Trọn vẹn câu trả lời của Đức Chúa Jesus không chỉ là một cách thoát bẫy khôn sáng, mà còn là một lời tuyên bố đầy uy quyền, đặt mọi sự vào đúng vị trí của nó.
Lời phán: “Hãy trả lại Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa” là phần phá giải cái bẫy. Khi phán như vậy, Đức Chúa Jesus:
-
Công nhận thực tế về trật tự xã hội và chính quyền.
-
Vạch trần sự giả hình của những người chất vấn, vì họ đã sử dụng và thừa nhận hệ thống của Sê-sa rồi.
-
Hóa giải hoàn toàn tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ngài không chống đối, nhưng cũng không ủng hộ vô điều kiện. Ngài đơn giản xác định phạm vi của những gì thuộc về Sê-sa: đó là đồng tiền mang hình và danh hiệu của ông, và những nghĩa vụ dân sự phát sinh từ nó.
Lời phán: “Hãy trả lại Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời” là phần then chốt và cao trào, biến câu trả lời từ một phát biểu chính trị thông thường thành một lời tuyên bố Thần học vang dội. Khi phán như vậy, Đức Chúa Jesus: Nhắc nhở mọi người rằng có một thẩm quyền cao hơn, trước hết, và trên hết mọi thẩm quyền trần gian.
Vậy, những gì là “thuộc về Đức Chúa Trời”? Câu trả lời ngầm hiểu là: TẤT CẢ: “Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” (Thi Thiên 24:1). Nhưng trên hết là mỗi một người, vì họ được tạo dựng theo hình và tượng của Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 1:27). Vì vậy, lòng trung thành tối thượng, sự thờ phượng, tình yêu, và cả sự vâng phục trọn vẹn của mỗi người phải thuộc về Đức Chúa Trời.
Đây mới chính là câu trả lời thật sự cho hàm ý của câu hỏi ban đầu (“Có được phép… theo luật pháp của Đức Chúa Trời không?”). Lời phán của Đức Chúa Jesus có thể được hiểu như sau: Các ngươi hỏi về thuế ư? Hãy cứ làm phần việc trần thế của các ngươi. Nhưng đừng quên điều quan trọng gấp ngàn lần. Đó là hãy dâng lên Đức Chúa Trời phần thuộc về Ngài, đó là chính đời sống, lòng trung tín, và sự thờ phượng của các ngươi.
Tóm lại, Đức Chúa Jesus đã:
-
Phá vỡ cái bẫy bằng sự khôn sáng.
-
Lật ngược tình thế để vạch trần sự giả hình của đối phương.
-
Thiết lập một nguyên tắc vĩnh cửu về hai loại nghĩa vụ: dân sự và thuộc linh.
-
Và quan trọng nhất, hướng mọi sự về Đức Chúa Trời, đặt Ngài làm trung tâm và là thẩm quyền tối cao cho mọi lĩnh vực của đời sống.
Câu trả lời của Đức Chúa Jesus không chỉ giải quyết tình huống trước mắt, mà còn là kim chỉ nam cho mọi con dân Chúa trong mọi thời đại về cách sống đức tin giữa thế gian. Đó là: “Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian” (Giăng 17:14-16). Họ cần luôn nhớ rằng sự vâng phục và thờ phượng Đức Chúa Trời phải là ưu tiên tối thượng.
Ma-thi-ơ 22:22
22 Nghe vậy họ đã bỡ ngỡ. Họ đã để Ngài lại, bỏ đi.
Lu-ca 20:26
26 Trước mặt dân chúng, họ đã không thể bắt lỗi lời phán của Ngài. Họ ngạc nhiên về câu trả lời của Ngài và họ giữ im lặng.
Câu trả lời của Đức Chúa Jesus đã khiến cho những kẻ gài bẫy Ngài ngỡ ngàng. Chẳng những họ đã không thể khiến Ngài sập bẫy mà họ còn tạo cơ hội cho đám đông dân chúng nhìn thấy sự khôn sáng lạ lùng của Đức Chúa Jesus. Một sự khôn sáng vượt trên tất cả các thầy giảng dạy Lời Chúa vào thời ấy.
Sự ngỡ ngàng của họ không phải là sự ngưỡng mộ, mà là sự sửng sốt, bất lực. Họ không thể tin rằng cái bẫy tinh vi của mình lại bị phá vỡ một cách gọn gàng và tao nhã đến thế.
Họ đã không thể bắt lỗi lời phán của Chúa nhưng họ cũng không biết phải đáp lời Ngài thế nào, nên họ đã im lặng, và có lẽ đã từ từ lui ra khỏi đó.
Sự im lặng của họ là dấu hiệu của sự thất bại hoàn toàn. Trong một nền văn hóa tranh luận công khai, sự không thể đáp lại là một sự sỉ nhục. Họ không có gì để nói, vì lời phán của Chúa đã phủ kín mọi ngóc ngách của cái bẫy.
Đám đông dân chúng chứng kiến cuộc đối chất này thấy rõ ai là người có thẩm quyền thật sự và có sự khôn sáng siêu việt. Trong khi những thầy thông giáo và những người Pha-ri-si thường dùng những lý lẽ phức tạp và vòng vo, thì Đức Chúa Jesus đã đưa ra một nguyên tắc đơn giản, sâu sắc, và không thể bắt bẻ được.
Điều này không chỉ củng cố uy tín của Đức Chúa Jesus, mà còn làm lu mờ ảnh hưởng của giới lãnh đạo tôn giáo đương thời. Dân chúng thấy được sự khác biệt giữa sự khôn sáng từ trời và sự khôn khéo của loài người.
“Họ đã để Ngài lại, bỏ đi” là hành động cho thấy sự đầu hàng hoàn toàn. Họ không còn lý do gì để ở lại. Mọi âm mưu đã bị bẻ gãy. Tuy nhiên, sự rút lui này không phải là sự ăn năn, mà là sự nuôi dưỡng lòng thù hận sâu hơn. Sự thất bại này chính là một trong những nguyên nhân khiến họ quyết tâm tìm cách bắt và giết Ngài bằng một kế hoạch khác. Hai ngày sau đó, họ đã dùng vũ lực và phiên tòa bất công để tiêu diệt Ngài.
Bài học cho chúng ta là:
Lẽ thật của Đức Chúa Trời luôn đứng vững và chiến thắng trước mọi sự khôn khéo và mưu kế của loài người.
Sự khôn sáng thật không nằm ở sự hơn thua, mà ở khả năng vạch trần lòng người và đưa mọi sự về với Đức Chúa Trời.
Khi đối diện với những lời chất vấn thù nghịch ngày nay, nguyên tắc “Hãy trả lại Sê-sa…” vẫn là kim chỉ nam. Điều đó có nghĩa là: Hãy trung thành trong bổn phận công dân, nhưng luôn giữ lòng trung tín tối thượng và sự thờ phượng dành riêng cho Đức Chúa Trời. Vì “thà vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục loài người.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29).
Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.
Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
20/12/2025
Ghi Chú
Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.
Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.
Karaoke Thánh Ca: “Tôi Vẫn Nhớ”:
https://karaokethanhca.net/toi-van-nho/
Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.
Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.
Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:
https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/







Users Today : 36
Users Yesterday : 94
Users This Year : 6805
Total Users : 2809916
Views Today : 110
Total views : 4481823
Who's Online : 1