YouTube: https://youtu.be/l2V5R8rmBfA
Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL126 Sự Sống Lại
Ma-thi-ơ 22:23-33; Mác 12:18-27; Lu-ca 20:27-40
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
- SoundCloud: Bấm vào đây
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
Kho chứa MP3 các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Kho chứa pdf các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Ma-thi-ơ 22:23-33
23 Trong ngày đó, những người Sa-đu-sê là những kẻ nói rằng không có sự sống lại, đã đến với Ngài và hỏi Ngài:
24 “Thưa thầy, Môi-se đã nói: ‘Nếu ai chết mà không có con cái, thì anh em ruột của người sẽ lấy vợ của người. Người ấy sẽ nối dòng cho anh em ruột của mình.’
25 Trong chúng tôi có bảy anh em ruột. Người đầu đã kết hôn, rồi chết. Nhưng vì người chưa có dòng giống nên đã để vợ của mình lại cho anh em ruột của mình.
26 Người thứ hai, thứ ba, cho đến thứ bảy cũng tương tự như vậy.
27 Rồi, sau hết, người đàn bà cũng chết.
28 Vậy, trong sự sống lại, nàng sẽ là vợ của ai trong bảy người? Vì hết thảy đều đã có nàng là vợ?”
29 Đức Chúa Jesus đã cất tiếng, phán với họ: “Các ngươi lầm lạc. Các ngươi không biết Thánh Kinh, cũng không biết quyền phép của Đức Chúa Trời.
30 Vì trong sự sống lại, người ta không kết hôn, cũng không được gả đi, nhưng họ giống như các thiên sứ trên trời của Thiên Chúa.
31 Về sự sống lại của những người chết, các ngươi đã không đọc lời đã phán với các ngươi bởi Đức Chúa Trời sao? Ngài phán:
32 ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’ {Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, 15-16} Ngài không là Đức Chúa Trời của những kẻ chết nhưng của những người sống.”
33 Các đám đông đã nghe thì kinh ngạc về sự giảng dạy của Ngài.
Mác 12:18-27
18 Những người Sa-đu-sê, là những kẻ nói không có sự sống lại, đến gần Ngài và hỏi Ngài rằng:
19 “Thưa thầy, Môi-se đã viết cho chúng tôi rằng: ‘Nếu một anh em kia chết, để lại vợ và không có con, thì anh em ruột của người ấy phải lấy người vợ và nối dòng cho anh em ruột của mình.’
20 Có bảy anh em ruột. Người thứ nhất đã cưới vợ, rồi chết, không có dòng giống.
21 Người thứ nhì đã lấy nàng, rồi chết, không để lại dòng giống. Người thứ ba cũng vậy.
22 Và cả bảy người đã không có dòng giống. Sau hết, người đàn bà cũng chết.
23 Trong sự sống lại, khi họ đã sống lại thì nàng sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì cả bảy người đã có nàng là vợ.”
24 Đức Chúa Jesus đã đáp trả họ: “Chẳng phải vì sự này các ngươi lầm lạc sao: không biết những lời Thánh Kinh cũng không biết quyền phép của Đức Chúa Trời?
25 Vì khi người ta từ những kẻ chết sống lại, họ chẳng cưới cũng chẳng được gả; nhưng họ giống như các thiên sứ trên các tầng trời.
26 Còn về những người chết mà họ được sống lại, các ngươi đã chẳng đọc trong sách của Môi-se, Đức Chúa Trời đã phán với người tại bụi gai rằng: ‘Ta, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp’?
27 Ngài không là Thiên Chúa của những kẻ chết nhưng của những người sống! Các ngươi lầm lạc to.”
Lu-ca 20:27-40
27 Có mấy người Sa-đu-sê kia, những kẻ chối rằng không có sự sống lại, đã đến gần, hỏi Ngài,
28 thưa rằng: “Thưa thầy, Môi-se đã viết cho chúng tôi: ‘Nếu anh em ruột của một người, có vợ, chết, và là người không con, thì người phải lấy người vợ của người ấy và nối dòng cho anh em ruột của mình.’
29 Vậy, đã có bảy anh em ruột. Người thứ nhất đã lấy vợ, chết, không con.
30 Người thứ nhì cũng đã lấy người vợ đó, chết, không con.
31 Người thứ ba cũng đã lấy nàng. Hết thảy bảy người cũng vậy, đều đã không để lại con và chết.
32 Cuối cùng, người đàn bà cũng đã chết.
33 Vậy, trong sự sống lại, người đàn bà đó được làm vợ ai trong số họ? Vì cả bảy người đều đã lấy nàng làm vợ.”
34 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Con cái của đời này cưới và được gả đi.
35 Nhưng những người được xứng đáng đạt được đời sau và sự sống lại từ những kẻ chết, thì họ không cưới cũng chẳng được gả đi.
36 Vì họ không thể bị chết nữa. Vì họ như các thiên sứ, và họ là những con cái của Thiên Chúa, là những con cái của sự sống lại.
37 Còn về những kẻ chết được sống lại, Môi-se đã cho biết tại bụi gai, khi người gọi: ‘Lạy Chúa, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’
38 Ngài không là Thiên Chúa của những kẻ chết nhưng của những người sống. Vì đối với Ngài, hết thảy đều sống.”
39 Có mấy thầy thông giáo đã cất tiếng, thưa: “Thưa thầy, Ngài đã nói phải lắm.”
40 Vì thế, họ đã không dám hỏi Ngài điều gì nữa.
Trong bài này, chúng ta sẽ cùng nhau học về một lẽ thật rất quan trọng của Thánh Kinh, đó là lẽ thật về sự sống lại của thân thể xác thịt loài người. Lẽ thật này được chính Đức Chúa Jesus giảng dạy.
Ngay từ trước thời Cựu Ước (trước khi Đức Chúa Trời thiết lập giao ước với dân I-sơ-ra-ên), sự mạc khải về sự sống lại đã được ban cho các thánh đồ. Điển hình là Gióp, với đức tin rằng dù thân thể ông bị tan nát, chính từ trong xác thịt ấy ông sẽ được thấy Thiên Chúa (Gióp 19:25-27).
Tiếp theo, các tiên tri thời Cựu Ước cũng có sự mạc khải về sự sống lại của thân thể xác thịt:
“Những kẻ chết của Ngài sẽ sống cùng với xác chết của tôi, họ sẽ trỗi dậy! Hỡi những kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hạt sương của Ngài là hạt sương của sự tươi sáng. Đất sẽ buông ra những kẻ chết.” (Ê-sai 26:19).
“Nhiều người ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy: nhiều người cho sự sống vĩnh cửu, nhiều kẻ cho sự xấu hổ nhơ nhuốc vĩnh cửu.” (Đa-ni-ên 12:2).
Qua các lời ấy, chúng ta có thể thấy rằng sự sống lại của thân thể xác thịt không phải chỉ dành riêng cho một cá nhân nào. Đó là điều ắt sẽ xảy ra cho tất cả mọi người: người tin kính Chúa lẫn người không tin kính Chúa. Đối với những người tin kính Chúa thì họ được sống lại và sống đời đời. Sự sống đời đời là sự thực hữu mãi mãi trong hạnh phúc với Thiên Chúa. Đối với những kẻ không tin kính Chúa thì họ được sống lại để chịu sự xấu hổ và bất hạnh đời đời. Về sau, Thánh Kinh Tân Ước gọi đó là sự chết đời đời, và định nghĩa rằng: “Họ sẽ bị hình phạt hư mất mãi, xa cách mặt Chúa và sự vinh quang của sức mạnh Ngài” (II Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Sự chết đời đời không phải là sự trở thành hư không như Giáo Hội Chứng Nhân Giê-hô-va và Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm dạy. Đó là sự thực hữu có ý thức trong hồ lửa đời đời và bị xa cách Thiên Chúa, không còn cơ hội để ăn năn.
Chính Đức Chúa Jesus đã khẳng định lẽ thật về sự sống lại của thân thể xác thịt loài người, khi những người Sa-đu-sê không tin về sự sống lại đặt câu hỏi để làm khó Ngài.
Như vậy, về sự sống lại của loài người, qua Thánh Kinh, chúng ta có:
- Niềm hy vọng từ thuở xa xưa (Gióp).
- Lời hứa tiên tri (Ê-sai) và mạc khải rõ ràng về sự sống lại của tất cả mọi người và sự phán xét (Đa-ni-ên) trong Cựu Ước.
- Sự xác nhận của chính Đức Chúa Jesus trong Tân Ước cùng với sự mạc khải Đức Thánh Linh tỏ ra cho Sứ Đồ Phao-lô và sự mạc khải do chính Đức Chúa Jesus tỏ ra cho Sứ Đồ Giăng.
Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu lời phán dạy đầy uy quyền của Đấng Christ, Đấng chính là “Sự Sống Lại và Sự Sống” (Giăng 11:25), về sự sống lại của loài người.
Ma-thi-ơ 22:23-24
23 Trong ngày đó, những người Sa-đu-sê là những kẻ nói rằng không có sự sống lại, đã đến với Ngài và hỏi Ngài:
24 “Thưa thầy, Môi-se đã nói: ‘Nếu ai chết mà không có con cái, thì anh em ruột của người sẽ lấy vợ của người. Người ấy sẽ nối dòng cho anh em ruột của mình.’
Mác 12:18-19
18 Những người Sa-đu-sê, là những kẻ nói không có sự sống lại, đến gần Ngài và hỏi Ngài rằng:
19 “Thưa thầy, Môi-se đã viết cho chúng tôi rằng: ‘Nếu một anh em kia chết, để lại vợ và không có con, thì anh em ruột của người ấy phải lấy người vợ và nối dòng cho anh em ruột của mình.’
Lu-ca 20:27-28
27 Có mấy người Sa-đu-sê kia, những kẻ chối rằng không có sự sống lại, đã đến gần, hỏi Ngài,
28 thưa rằng: “Thưa thầy, Môi-se đã viết cho chúng tôi: ‘Nếu anh em ruột của một người, có vợ, chết, và là người không con, thì người phải lấy người vợ của người ấy và nối dòng cho anh em ruột của mình.’
“Trong ngày đó” là trong ngày các thầy tế lễ thượng phẩm cùng các thầy thông giáo và các trưởng lão trong dân I-sơ-ra-ên gạn hỏi Đức Chúa Jesus về thẩm quyền của Ngài. Khi họ bị Ngài làm cho cứng miệng, thì những người Pha-ri-si liên kết với đảng Hê-rốt để gài bẫy Ngài. Họ đã đặt ra cho Ngài câu hỏi về sự đóng thuế cho Sê-sa. Nhưng rồi họ cũng bị Ngài làm cho cứng miệng, đành bỏ đi.
Có lẽ những người Sa-đu-sê nghe biết về sự thất bại của những người Pha-ri-si nên họ đến gặp Đức Chúa Jesus để giương ra một câu hỏi gài bẫy khác. Phái Sa-đu-sê không tin về sự sống lại nên họ đưa ra một câu hỏi liên quan sự sống lại. Có lẽ họ đã tự tin, cho rằng Đức Chúa Jesus sẽ không thể nào trả lời câu hỏi của họ cách thỏa đáng.
Họ trích dẫn luật pháp của Môi-se về sự anh em ruột phải lấy người vợ góa không con của người anh em đã chết để sinh con, nối dòng cho người đã chết làm tiền đề cho câu hỏi mà họ sẽ đặt ra cho Đức Chúa Jesus. Thâm ý của họ là đưa Đức Chúa Jesus vào ngõ bí, không thể trả lời họ, và như vậy, họ có thể đắc chí, tuyên bố rằng: không có sự sống lại.
Chúng ta thấy trong cùng một ngày, giới lãnh đạo Do-thái đã liên tục tấn công Đức Chúa Jesus bằng các câu hỏi gài bẫy. Mỗi nhóm nhắm vào một điểm mà họ cho là điểm yếu của Đức Chúa Jesus: thẩm quyền, lòng trung thành chính trị, và trình độ Thần học, khả năng giải kinh. Họ nghĩ câu hỏi về sự sống lại là “cú đấm chí tử” vì nó phức tạp, dựa trên luật pháp, và liên quan đến một giáo lý mà chính họ bác bỏ.
Ma-thi-ơ 22:25-28
25 Trong chúng tôi có bảy anh em ruột. Người đầu đã kết hôn, rồi chết. Nhưng vì người chưa có dòng giống nên đã để vợ của mình lại cho anh em ruột của mình.
26 Người thứ hai, thứ ba, cho đến thứ bảy cũng tương tự như vậy.
27 Rồi, sau hết, người đàn bà cũng chết.
28 Vậy, trong sự sống lại, nàng sẽ là vợ của ai trong bảy người? Vì hết thảy đều đã có nàng là vợ?”
Mác 12:20-23
20 Có bảy anh em ruột. Người thứ nhất đã cưới vợ, rồi chết, không có dòng giống.
21 Người thứ nhì đã lấy nàng, rồi chết, không để lại dòng giống. Người thứ ba cũng vậy.
22 Và cả bảy người đã không có dòng giống. Sau hết, người đàn bà cũng chết.
23 Trong sự sống lại, khi họ đã sống lại thì nàng sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì cả bảy người đã có nàng là vợ.”
Lu-ca 20:29-33
29 Vậy, đã có bảy anh em ruột. Người thứ nhất đã lấy vợ, chết, không con.
30 Người thứ nhì cũng đã lấy người vợ đó, chết, không con.
31 Người thứ ba cũng đã lấy nàng. Hết thảy bảy người cũng vậy, đều đã không để lại con và chết.
32 Cuối cùng, người đàn bà cũng đã chết.
33 Vậy, trong sự sống lại, người đàn bà đó được làm vợ ai trong số họ? Vì cả bảy người đều đã lấy nàng làm vợ.”
Những người Sa-đu-sê đã không hỏi thẳng Đức Chúa Jesus: “Có sự sống lại không?” Họ dùng một câu hỏi giả định cực đoan, một phụ nữ lần lượt lấy bảy anh em ruột làm chồng, dựa trên một luật có thật (Phục Truyền Luật Lệ Ký 25:5-6, luật “kế tự”). Mục đích của họ là biến giáo lý về sự sống lại thành điều vô lý và phi thực tế bằng cách đặt nó vào một tình huống xã hội rối rắm.
Họ tưởng câu hỏi của họ sẽ chứng minh cho đám đông thấy rằng đức tin về sự sống lại là ngớ ngẩn. Họ tưởng họ có thể làm bối rối Đức Chúa Jesus trước đám đông và khiến cho uy tín như một bậc thầy của Ngài bị suy giảm.
Rõ ràng, câu trả lời không thể là: “Người đàn bà sẽ là vợ của người chồng đầu tiên”. Vì những người Sa-đu-sê sẽ nói như vậy là không công bằng cho sáu người chồng còn lại.
Câu trả lời không thể là: “Người đàn bà sẽ là vợ của cả bảy người”. Vì như vậy là chấp nhận cho sự đa phu trong đời sau, một điều mà ngay trong đời hiện tại không được luật pháp công nhận. Vì luật pháp nói rõ, người đàn bà chỉ có thể lấy chồng khác khi chồng đã chết hoặc khi đã ly dị.
Câu trả lời cũng không thể là: “Người đàn bà sẽ không là vợ của ai trong bảy người” mà không có lời giải thích thỏa đáng. Vì những người Sa-đu-sê sẽ cho rằng Đức Chúa Jesus trả lời ngang, không dựa vào luật pháp hoặc lý lẽ Thần học.
Nói tóm lại, những người Sa-đu-sê đã rất tự tin là họ sẽ bắt bí được Đức Chúa Jesus và qua đó, họ chứng minh rằng giáo lý “không có sự sống lại” của họ là đúng.
Họ không tin có sự sống lại vì họ là những người sống rất thực dụng. Họ không muốn để cho giáo lý về sự sống lại với sự thưởng phạt ngăn cản sự lo làm giàu, tìm kiếm địa vị, danh tiếng, quyền thế, và hưởng mọi sự sung sướng trong đời này của họ. Họ tự dối mình để có thể vui sống theo ý riêng.
Ma-thi-ơ 22:29
29 Đức Chúa Jesus đã cất tiếng, phán với họ: “Các ngươi lầm lạc. Các ngươi không biết Thánh Kinh, cũng không biết quyền phép của Đức Chúa Trời.
Mác 12:24
24 Đức Chúa Jesus đã đáp trả họ: “Chẳng phải vì sự này các ngươi lầm lạc sao: không biết những lời Thánh Kinh cũng không biết quyền phép của Đức Chúa Trời?
Động từ “lầm lạc” có nghĩa đen là khiến cho đi ra khỏi con đường chính; nghĩa bóng là dẫn dắt ra khỏi lẽ thật, ra khỏi sự an toàn, hoặc ra khỏi sự công chính. Ngoài ra, nó còn được dùng với ý nghĩa là lừa dối, dẫn đi sai lạc. Khi được dùng với trung động cách (tự mình tác động lên chính mình) nó có nghĩa là lầm lạc không bởi tác nhân bên ngoài.
Những người Sa-đu-sê lầm lạc không phải vì ai dẫn dắt họ nhưng vì họ không hiểu Lời Chúa và không hiểu quyền phép của Đức Chúa Trời. Họ lầm lạc vì sự thiếu hiểu biết của chính họ.
Sự không hiểu Lời Chúa và không hiểu quyền phép của Đức Chúa Trời vừa có thể khiến cho một người lầm lạc, vừa có thể khiến cho người ấy bị kẻ khác dẫn dắt xa cách lẽ thật, xa cách nếp sống công chính. Vì thế, con dân Chúa cần phải làm theo mệnh lệnh của Chúa trong Giô-suê 1:8: “Cuốn Sách Luật Pháp này chớ xa miệng ngươi, nhưng ngươi hãy suy ngẫm ngày và đêm, để cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong. Vì như vậy, ngươi sẽ được thịnh vượng trong đường lối mình và ngươi sẽ hành động thông sáng.”
Lời Chúa soi dẫn loài người để họ biết sống nếp sống yêu thương, thánh khiết, và công chính:
“Lời Ngài là ngọn đèn cho chân tôi và ánh sáng cho đường lối tôi.” (Thi Thiên 119:105).
Lời Chúa là lẽ thật, giải phóng loài người ra khỏi sự nô lệ cho tội lỗi:
“Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ giải phóng các ngươi.” (Giăng 8:32).
Lời Chúa là lẽ thật, giúp thánh hóa loài người:
“Xin Ngài thánh hóa họ bằng Lẽ Thật của Ngài. Lời Ngài là Lẽ Thật.” (Giăng 17:17).
Sự hiểu biết đúng Lời Chúa phải dựa vào sự soi dẫn của Đức Thánh Linh, Đấng dẫn con dân Chúa vào trong mọi lẽ thật (Giăng 16:13).
Qua lời phán của Đức Chúa Jesus, chúng ta cần chú ý đến hai điều quan trọng như sau:
Không biết Thánh Kinh ở đây không có nghĩa là không đọc Thánh Kinh mà là đọc nhưng không có sự suy ngẫm trong tinh thần tìm kiếm lẽ thật và trong sự nương cậy nơi Đức Thánh Linh. Điều đó khiến cho người đọc Thánh Kinh bị sai lầm về cách hiểu và áp dụng Lời Chúa vào đời sống.
Không biết quyền phép của Đức Chúa Trời không có nghĩa là không công nhận Đức Chúa Trời có quyền phép mà là không tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm được mọi sự mà Ngài đã phán truyền và được ghi lại trong Thánh Kinh cho chính mình.
Những người vừa không biết Thánh Kinh vừa không biết quyền phép của Đức Chúa Trời thì chẳng khác gì những người không tin Chúa. Họ cứ sống theo ý riêng và sức riêng của họ, trong khi tuyên xưng rằng họ tin nhận Chúa.
Điển hình là một người có thể học thuộc lòng Ma-thi-ơ 6:24-34 nhưng suốt ngày vẫn lo ăn, lo mặc; thậm chí đang có công ăn việc làm tốt mà cứ lo đến việc có thể bị thất nghiệp. Họ tin Chúa có quyền năng trên lý thuyết, nhưng không tin quyền năng ấy dành cho họ trong tình huống cụ thể. Họ không tin rằng lời hứa của Đức Chúa Trời có quyền năng biến đổi hiện thực. Họ sống như là hiện thực của việc làm, tiền bạc, nan đề… mạnh hơn lời hứa của Đấng Tạo Hóa.
Sự biết Thánh Kinh và biết quyền phép của Đức Chúa Trời phải đi đôi với nhau như hai mặt của một đồng tiền. Nếu chỉ hiểu đúng Lời Chúa mà không có đức tin vào sự Đức Chúa Trời có thể làm thành mọi điều được ghi chép trong Thánh Kinh thì sự biết Lời Chúa không giúp ích gì cho bất cứ ai. Nếu chỉ tin vào quyền phép của Đức Chúa Trời mà thiếu sự hiểu biết Lời Chúa thì sẽ dễ dàng bị dẫn dụ vào mê tín dị đoan và không phân biệt được việc làm của Đức Chúa Trời hay việc làm của ma quỷ.
Ma-thi-ơ 22:30
30 Vì trong sự sống lại, người ta không kết hôn, cũng không được gả đi, nhưng họ giống như các thiên sứ trên trời của Thiên Chúa.
Mác 12:25
25 Vì khi người ta từ những kẻ chết sống lại, họ chẳng cưới cũng chẳng được gả; nhưng họ giống như các thiên sứ trên các tầng trời.
Lu-ca 20:34-36
34 Đức Chúa Jesus đã phán với họ: “Con cái của đời này cưới và được gả đi.
35 Nhưng những người được xứng đáng đạt được đời sau và sự sống lại từ những kẻ chết, thì họ không cưới cũng chẳng được gả đi.
36 Vì họ không thể bị chết nữa. Vì họ như các thiên sứ, và họ là những con cái của Thiên Chúa, là những con cái của sự sống lại.
“Giống như các thiên sứ” không phải là trở nên vô giới tính như các thiên sứ mà là giống ở chỗ không kết hôn, không sinh con. Trong II Cô-rinh-tô 6:18, Đức Chúa Trời gọi những người thuộc về Ngài là những con trai và những con gái của Ngài. Điều đó hàm ý trong sự sống lại, thân thể xác thịt của mỗi người vẫn mang giới tính nam và nữ, dù khi ấy, loài người không còn kết hôn, không còn sinh con.
Từ buổi ban đầu, Thiên Chúa dựng nên loài người, cả nam và nữ, theo hình và như tượng của Thiên Chúa. Công trình sáng tạo của Thiên Chúa là “rất tốt lành” (Sáng Thế Ký 1:26, 31). Vì thế, ai đã được dựng nên là nam thì khi sống lại cũng là nam; ai đã được dựng nên là nữ thì khi sống lại cũng là nữ. Mỗi người sẽ được mang lấy hình thể khỏe mạnh, xinh đẹp mà Đức Chúa Trời đã định cho họ từ trước khi sáng thế. Có thể mỗi người được sống lại với dáng dấp của một người trưởng thành, khoảng chừng 30 tuổi, như A-đam và Ê-va trong ngày họ được dựng nên, bất kể là họ đã chết vào tuổi nào. Những người đang sống mà thân thể được biến hóa trong ngày Đấng Christ đến với Hội Thánh cũng vậy.
Chúng ta thấy Lu-ca có ghi lại bốn chi tiết trong lời phán của Đức Chúa Jesus mà Ma-thi-ơ và Mác không ghi.
- “Con cái của đời này cưới và được gả đi.”
- “Nhưng những người được xứng đáng đạt được đời sau và sự sống lại từ những kẻ chết…”
- “Vì họ không thể bị chết nữa.”
- “Họ là những con cái của Thiên Chúa, là những con cái của sự sống lại.”
Chúng ta có thể hiểu rằng, Ma-thi-ơ và Mác chọn ghi lại cách vắn tắt lời phản bác chính của Đức Chúa Jesus, còn Lu-ca thì ghi lại cách chi tiết hơn, vì ông viết cho những người Hy-lạp thiên về tri thức. Trong lịch sử văn hóa cổ đại, người Hy-lạp thường được coi là thích lý luận trừu tượng, tranh luận triết học, và suy tư lý trí hơn so với người La-mã nghiêng về thực tiễn và người Do-thái tập trung vào luật pháp cùng dấu lạ.
Qua sự ghi chép của Lu-ca chúng ta biết rằng:
- Có sự khác biệt lớn giữa đời này và đời sau.
- “Đời sau” được nói đến ở đây chính là Vương Quốc Trời.
- “Những người được xứng đáng” là những người trong đời này thật lòng ăn năn tội, hoàn toàn tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và trung tín cho tới chết hoặc cho tới khi được Đấng Christ đem ra khỏi thế gian.
- “Sự sống lại từ những kẻ chết” và “không thể bị chết nữa” chính là sự sống lại và sự sống đời đời đã được Đức Chúa Jesus hứa cho những ai tin Ngài (Giăng 11:25-26).
- “Đời sau” được liên kết với sự sống lại và sự sống đời đời.
- Những người xứng đáng ấy được gọi là những con cái của Thiên Chúa, tức là những người được hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời.
- Họ cũng được gọi là những con cái của sự sống lại vì sự sống lại của họ là ở trong sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ, Đấng là sự sống lại và sự sống.
Sự sống lại được Đức Chúa Jesus nói đến trong khi trả lời cho những người Sa-đu-sê là sự sống lại của những người có đức tin nơi Thiên Chúa và trung tín cho tới chết. Không phải là sự sống lại của tất cả mọi người. Vì sẽ có sự sống lại để chịu sự phán xét chung cuộc của những người không thuộc về Thiên Chúa, như đã tiên tri trong Khải Huyền 20:11-15.
Ma-thi-ơ 22:31-33
31 Về sự sống lại của những người chết, các ngươi đã không đọc lời đã phán với các ngươi bởi Đức Chúa Trời sao? Ngài phán:
32 ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’ {Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, 15-16} Ngài không là Đức Chúa Trời của những kẻ chết nhưng của những người sống.”
33 Các đám đông đã nghe thì kinh ngạc về sự giảng dạy của Ngài.
Mác 12:26-27
26 Còn về những người chết mà họ được sống lại, các ngươi đã chẳng đọc trong sách của Môi-se, Đức Chúa Trời đã phán với người tại bụi gai rằng: ‘Ta, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp’?
27 Ngài không là Thiên Chúa của những kẻ chết nhưng của những người sống! Các ngươi lầm lạc to.”
Lu-ca 20:37-40
37 Còn về những kẻ chết được sống lại, Môi-se đã cho biết tại bụi gai, khi người gọi: ‘Lạy Chúa, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của I-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’
38 Ngài không là Thiên Chúa của những kẻ chết nhưng của những người sống. Vì đối với Ngài, hết thảy đều sống.”
39 Có mấy thầy thông giáo đã cất tiếng, thưa: “Thưa thầy, Ngài đã nói phải lắm.”
40 Vì thế, họ đã không dám hỏi Ngài điều gì nữa.
Những người Sa-đu-sê trưng dẫn luật pháp trong Thánh Kinh, đưa ra một câu hỏi giả định, mong rằng sẽ bắt bí Đức Chúa Jesus và bởi đó, củng cố cho giáo lý không có sự sống lại của họ. Đức Chúa Jesus đã dùng chính Thánh Kinh để chứng minh cho sự sống lại là có thật và khiến cho họ bị cứng miệng.
Đức Chúa Jesus lặp lại lời Đức Chúa Trời phán với Môi-se, được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, 15-16. Trong lời phán của Đức Chúa Trời, Ngài dùng thì hiện tại để xưng nhận Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp, mặc dù khi Đức Chúa Trời phán lời ấy thì cả ba người đều đã qua đời. Điều đó chứng tỏ phải có sự sống lại của những người đã chết. Vì thế, Đức Chúa Jesus đã đúc kết: “Ngài không là Đức Chúa Trời của những kẻ chết nhưng của những người sống.”
Chúng ta cũng cần để ý, trong Ma-thi-ơ 22:31, Đức Chúa Jesus đã phán rằng: “Về sự sống lại của những người chết, các ngươi đã không đọc lời đã phán với các ngươi bởi Đức Chúa Trời sao?”
Lời phán của Đức Chúa Trời trong Xuất Ê-díp-tô Ký là lời Đức Chúa Trời phán với Môi-se. Nhưng Đức Chúa Jesus lại nói: “lời đã phán với các ngươi bởi Đức Chúa Trời”. Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Jesus xem lời Đức Chúa Trời phán với Môi-se là lời Ngài cũng phán cho tất cả loài người. Tức là khi chúng ta đọc Thánh Kinh thì mỗi lời trong đó đều là lời của Thiên Chúa phán với chúng ta.
Một lần nữa, Đức Chúa Jesus nhắc lại rằng những người Sa-đu-sê lầm lạc, nhưng lần này Ngài bảo rằng họ lầm lạc to. Họ đọc Lời Chúa nhưng không biết Lời Chúa. Họ công nhận Đức Chúa Trời là toàn năng nhưng lại không tin rằng Ngài có thể làm cho những người chết được sống lại.
Dân chúng nghe tới đây thì đã rất kinh ngạc về sự giảng dạy của Đức Chúa Jesus. Vì lời giảng của Ngài chứng minh sự sống lại là một lẽ thật đã được ghi chép trong Thánh Kinh, qua chính lời của Đức Chúa Trời phán với Môi-se.
Trong số đám đông có mấy thầy thông giáo đã cất tiếng thưa với Đức Chúa Jesus: “Thưa thầy, Ngài đã nói phải lắm.” Phần lớn các thầy thông giáo thuộc phái Pha-ri-si, là những người tin có sự sống lại. Có lẽ trước đó, phái Pha-ri-si đã không biết làm thế nào để bảo vệ đức tin về sự sống lại bằng Lời Chúa. Giờ đây, với lời phán dạy của Đức Chúa Jesus, họ thấy được lẽ thật ấy đã nằm trong chính lời phán của Đức Chúa Trời từ hàng ngàn năm trước.
Lời phán dạy của Đức Chúa Jesus không chỉ chứng minh cho lẽ thật về sự sống lại mà còn khẳng định sự thực hữu của các thiên sứ. Cùng một lúc, Đức Chúa Jesus đã phá vỡ hai niềm tin căn bản (sai lạc) của những người Sa-đu-sê. Họ không tin có sự sống lại và cũng không tin có các thiên sứ.
Lu-ca 20:40 hàm ý những người Sa-đu-sê cũng thầm công nhận lời phán dạy hợp lý của Đức Chúa Jesus như các thầy thông giáo, nên họ không dám hỏi Chúa điều gì nữa. Họ không dám vì sợ rằng sẽ tiếp tục bị Chúa vạch trần thêm những sai lầm của họ, chứng tỏ cho dân chúng thấy họ không có sự hiểu biết Lời Chúa và cũng không có sự hiểu biết quyền phép của Đức Chúa Trời.
Chúng ta thấy trong ghi chép của Lu-ca có một chi tiết quan trọng. Đó là câu: “Vì đối với Ngài, hết thảy đều sống.” Chúng ta không biết vì lý do gì Ma-thi-ơ và Mác không ghi lại câu này. Có lẽ hai ông chỉ ghi chép cách ngắn gọn sự việc còn Lu-ca thì ghi chi tiết hơn để giúp những độc giả người Hy-lạp ưa thích lý luận có đủ dữ liệu để suy ngẫm. Cũng có thể câu ấy là lời diễn giải của Lu-ca, dưới sự thần cảm bởi Đức Thánh Linh, dành riêng cho những độc giả người Hy-lạp.
Cho dù đó là lời phán của Đức Chúa Jesus hay sự diễn giải của Đức Thánh Linh qua Lu-ca thì đó vẫn là “Lời của Thiên Chúa”, là lẽ thật.
Tính từ “hết thảy” có thể bao gồm muôn loài thọ tạo. Đối với Đức Chúa Trời, hết thảy mọi tạo vật đều sống động, vì chúng được sáng tạo bởi Đấng Hằng Sống. Ngay cả những hạt bụi bé nhỏ nhất cũng đang sống động với sự vận hành bên trong của hàng ngàn đến hàng chục ngàn tỷ (10¹¹ đến 10¹³) nguyên tử tạo ra chúng.
Sự chết tạm thời của thân thể xác thịt loài người không khiến cho họ biến mất hay trở thành hư không. Người đã chết vẫn tồn tại trong thế giới thuộc linh, chờ ngày thân thể xác thịt được sống lại. Câu chuyện một người giàu và người ăn mày tên La-xa-rơ trong âm phủ đã được Đức Chúa Jesus dùng để chứng minh cho sự “đang sống” của những người đã chết mà thân thể xác thịt của họ đã trở về với bụi đất (Lu-ca 16:19-31). Câu chuyện Môi-se hiện ra trên núi hóa hình với Đức Chúa Jesus và Ê-li cũng là bằng chứng cho sự người chết vẫn đang sống.
Trong Sáng Thế Ký 1:31, Đức Chúa Trời đã xác nhận công trình sáng tạo của Ngài là “rất tốt lành”. Điều đó có nghĩa là muôn loài thọ tạo đều sống động, không có khiếm khuyết, không có hỗn loạn, không có đau khổ, không có hư tàn, không có sự chết cho tới khi tội lỗi vào trong thế gian. Đau khổ và sự chết là hậu quả của sự phạm tội và chúng chỉ là tạm thời trong sự cho phép của Đức Chúa Trời. Khi thời điểm đã định đến, Đức Chúa Trời sẽ phục hồi muôn vật, khiến chúng ra khỏi sự chết, vào trong sự sống. Ngay cả những người chống nghịch Ngài cũng sẽ được sống lại và tồn tại đời đời trong hỏa ngục cùng các thiên sứ phạm tội.
Đối với Đức Chúa Trời “hết thảy đều sống” nhưng có hai sự sống đối nghịch nhau: sự sống hạnh phúc đời đời trong Vương Quốc Trời và sự sống bất hạnh đời đời trong hỏa ngục. Sự lựa chọn thuộc về mỗi người.
Trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh, Ma-thi-ơ 22:32, Mác 12:26, và Lu-ca 20:37 đều dùng danh từ “θεός” (theos – G2316) /theh’-os – thê-ót/, với mạo từ xác định, nên chúng tôi đã dịch là “Đức Chúa Trời” để chỉ về Thiên Chúa Đức Cha.
Trong Mác 12:27 và Lu-ca 20:38 thì dùng danh từ “θεός” không có mạo từ xác định, nên chúng tôi đã dịch là “Thiên Chúa” để chỉ chung Ba Ngôi Thiên Chúa.
Sự dùng mạo từ xác định trước các từ ngữ chỉ về Thiên Chúa để chỉ về Thiên Chúa Đức Cha và không dùng mạo từ xác định để chỉ chung Ba Ngôi Thiên Chúa là thống nhất trong toàn bộ Thánh Kinh, từ Cựu Ước đến Tân Ước, trong cả ba nguyên ngữ của Thánh Kinh: tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng A-ra-mai, và tiếng Hy-lạp.
Trong các bản dịch tiếng Anh không có sự phân biệt này. Cảm tạ Chúa! Trong tiếng Việt chúng ta có hai danh xưng “Thiên Chúa” và “Đức Chúa Trời” rất thích hợp để dịch thật sát ý nghĩa Thần học danh xưng của Thiên Chúa.
Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.
Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
10/01/2026
Ghi Chú
Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.
Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.
Karaoke Thánh Ca: “Bước Cùng Với Ngài”:
Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.
Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.
Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:






Users Today : 31
Users Yesterday : 94
Users This Year : 6800
Total Users : 2809911
Views Today : 101
Total views : 4481814
Who's Online : 0