Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ – TL140 Ngụ Ngôn về Các Ta-lâng

64 views

YouTube: https://youtu.be/QHLNuW23fjw

Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL140 Ngụ Ngôn về Các Ta-lâng
Ma-thi-ơ 25:14-30

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:

Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:

Kho chứa MP3 các bài giảng:

Kho chứa pdf các bài giảng:

Ma-thi-ơ 25:14-30

14 Vì như một người đi xa, đã gọi các đầy tớ của mình và giao cho họ những tài sản của mình.

15 Thực tế, người ấy đã giao cho một người năm ta-lâng, cho một người hai ta-lâng, cho một người một ta-lâng, mỗi người tùy theo khả năng riêng; rồi người ấy đã lập tức lên đường. {Một ta-lâng Hy-lạp tương đương 26 kg hoặc 57 cân Anh. Một ta-lâng Hê-bơ-rơ tương đương 34 kg hoặc 75 cân Anh.}

16 Người đã nhận năm ta-lâng đã đi, kinh doanh với chúng và đã thu lợi thêm năm ta-lâng.

17 Người đã nhận hai ta-lâng cũng vậy, đã thu lợi thêm hai ta-lâng.

18 Nhưng người đã nhận một ta-lâng đã đi, đào đất và giấu tiền của chủ mình.

19 Sau một thời gian, chủ của những đầy tớ ấy trở về và tính sổ với họ.

20 Người đã nhận năm ta-lâng đã đến, đem đến năm ta-lâng khác nữa và thưa rằng: ‘Lạy chúa, ngài đã cho tôi năm ta-lâng. Này, tôi đã thu lợi thêm năm ta-lâng.’

21 Chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm! Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc. Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi!’

22 Người đã nhận hai ta-lâng cũng đến, thưa rằng: ‘Lạy chúa, ngài đã cho tôi hai ta-lâng. Này, tôi đã thu lợi thêm hai ta-lâng.’

23 Chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm! Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc. Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi!’

24 Người đã nhận một ta-lâng cũng đến, thưa rằng: ‘Lạy chúa, tôi đã biết ngài, rằng ngài là người nghiêm khắc, gặt trong chỗ mình không gieo, thu hoạch trong chỗ mình không rải ra.

25 Tôi đã sợ, đi giấu ta-lâng của ngài trong đất. Này, ngài có vật của ngài.’

26 Nhưng chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác! Ngươi đã biết rằng ta gặt trong chỗ ta không gieo, và ta thu hoạch trong chỗ ta không rải ra.

27 Vậy, ngươi phải đưa tiền của ta cho người đổi tiền. Khi ta trở về, ta sẽ nhận tiền của ta với tiền lời.

28 Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng từ nó và đưa cho người có mười ta-lâng.

29 Vì bất cứ ai có thì sẽ được cho và người ấy sẽ có dư dật; nhưng kẻ không có thì điều nó có sẽ bị cất khỏi nó.

30 Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài; tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng.’

Ngụ ngôn Các Ta-lâng trong Ma-thi-ơ 25:14-30 tiếp nối ngay sau ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, và cùng nằm trong chuỗi lời tiên tri thời chung cuộc mà Đức Chúa Jesus phán dạy trên Núi Ô-li-ve. Chữ “vì” mở đầu câu 14 — “Vì như một người đi xa” — cho thấy đây là sự tiếp nối tư tưởng, một minh họa thêm cho lời khuyên “hãy canh chừng” trong câu 13. Vương Quốc Trời không chỉ đòi hỏi sự chuẩn bị (bài học từ Mười Nữ Đồng Trinh) mà còn đòi hỏi sự trung tín trong hành động (bài học từ Các Ta-lâng).

Như đã khẳng định trong phần chú giải ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, Ma-thi-ơ 25 là lời tiên tri về các sự kiện sẽ xảy ra, sau khi Đấng Christ tái lâm trên đất và tiêu diệt AntiChrist cùng những ai mang dấu của nó (Khải Huyền 19:19-21). Ngụ ngôn Các Ta-lâng, trong sự ứng nghiệm tiên tri trực tiếp, mô tả cuộc xét xử và phân loại những người đã phục vụ Chúa trong Kỳ Tận Thế, trước khi Vương Quốc Ngàn Năm được chính thức khai mở.

Tuy nhiên, cũng như ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, giá trị đạo đức và thuộc linh của ngụ ngôn này vượt qua ranh giới thời đại. Nguyên tắc trách nhiệm, trung tín, và phán xét theo sự ủy thác là các nguyên tắc Đức Chúa Trời áp dụng cho con dân Ngài trong mọi thế hệ: từ dân I-sơ-ra-ên và những người tin nhận Tin Lành trong Kỳ Tận Thế cho đến Hội Thánh trong thời đại ân điển hiện tại.

Để hiểu đúng ngụ ngôn này trong bối cảnh thời chung cuộc chúng ta cần nhận ra rằng trong Kỳ Tận Thế, Đấng Christ sẽ ủy thác nhiệm vụ thuộc linh cho những nhóm người khác nhau, với mức độ trách nhiệm khác nhau.

Nhóm thứ nhất, những người nhận năm ta-lâng: Đây là nhóm 144.000 người I-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời đóng ấn và sai phái trong Kỳ Tận Thế (Khải Huyền 7:1-8). Họ là những người được Đức Chúa Trời kén chọn đặc biệt, được trang bị đầy đủ nhất, và được giao sứ mệnh lớn nhất: rao truyền Tin Lành của Vương Quốc Trời đến tận cùng đất, trong thời kỳ khủng khiếp nhất của lịch sử loài người (Ma-thi-ơ 24:14; Khải Huyền 14:6-7). Họ nhận được năm ta-lâng vì họ được trang bị đầy đủ nhất. Họ có đức tin, có lòng yêu kính Thiên Chúa, có Thánh Kinh Cựu Ước lẫn Tân Ước, có các ân tứ đặc biệt, có sự bảo vệ siêu nhiên của Đức Chúa Trời (Khải Huyền 9:4). Họ là những người đã sẵn sàng và có dầu dự trữ. Vì thế, họ được giao trách nhiệm lớn và họ đều thành toàn.

Nhóm thứ nhì, những người nhận hai ta-lâng: Nhóm này gồm hai loại người:

  • Những người đã thật sự tin Chúa trong Hội Thánh nhưng bị bỏ lại khi Đấng Christ cất Hội Thánh lên. Vì họ đã không hết lòng sống theo Lời Chúa, đã không canh chừng sự trở lại của Ngài. Đây không phải là những người không được cứu. Họ đã tin, nhưng đời sống thuộc linh của họ chưa trưởng thành, chưa sẵn sàng cho Lễ Cưới Chiên Con. Đây là một chủ đề Thần học tinh tế và gây tranh luận, nhưng phù hợp với nguyên tắc trong Ma-thi-ơ 22:11-13 về người không có áo cưới. Họ có Lời Chúa đầy đủ (Cựu Ước và Tân Ước) nhưng đã không đầu tư đủ để phát triển đời sống thuộc linh sâu sắc. Chúa đã ban cho họ cơ hội thứ nhì và họ đã biết nắm lấy.
  • Những người tin Chúa trong Kỳ Tận Thế, những linh hồn được cứu qua sự rao giảng của nhóm 144.000, qua sự rao giảng của hai Chứng Nhân (Khải Huyền 11:3-12), qua sự rao giảng của những người trong Hội Thánh bị bỏ lại, và qua chính thiên sứ (Khải Huyền 14:6). Họ đến với đức tin muộn hơn, nên sự trang bị của họ có phần hạn chế hơn nhóm thứ nhất.

Nhóm thứ ba, những người nhận một ta-lâng: Cũng tương tự như nhóm thứ nhì về thành phần, nhưng họ là những người được ủy thác nhiệm vụ ở mức tối thiểu nhất. Họ có đủ sự hiểu biết về Chúa để biết Ngài là ai và để chịu trách nhiệm về hành động của mình, nhưng họ chọn không tích cực đáp ứng sự ủy thác ít ỏi đó.

Nền tảng Thần học của sự phân loại này được khẳng định rõ ràng qua hai nguyên tắc Thánh Kinh song hành:

  • Lu-ca 12:48: “Ai đã được giao cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn từ người ấy.”
  • I Cô-rinh-tô 3:8: “Mỗi người sẽ nhận phần thưởng của mình tùy theo sự lao động của mình.”

Đây là nguyên tắc Đức Chúa Trời luôn dùng trong suốt lịch sử: từ việc phân chia đất đai cho các chi phái I-sơ-ra-ên theo dân số (Dân Số Ký 26:54), đến việc Đức Chúa Jesus phán dạy sự khác nhau về địa vị trong Vương Quốc Trời (Ma-thi-ơ 5:19; 11:11). Đức Chúa Trời ban cho cách công bằng, nhưng sự công bằng của Ngài không có nghĩa là sự đồng đều.

Ma-thi-ơ 25:14-15

14 Vì như một người đi xa, đã gọi các đầy tớ của mình và giao cho họ những tài sản của mình.

15 Thực tế, người ấy đã giao cho một người năm ta-lâng, cho một người hai ta-lâng, cho một người một ta-lâng, mỗi người tùy theo khả năng riêng; rồi người ấy đã lập tức lên đường.

{Một ta-lâng Hy-lạp tương đương 26 kg hoặc 57 cân Anh. Một ta-lâng Hê-bơ-rơ tương đương 34 kg hoặc 75 cân Anh.}

Ngụ ngôn mở ra với hình ảnh một người chủ giàu có chuẩn bị lên đường, đi xa. Đây không phải là chuyến đi ngắn ngày. Ông sẽ vắng mặt trong một thời gian dài, đủ để các đầy tớ có thể làm thay đổi đáng kể những gì được giao cho họ. Hình ảnh này là ẩn dụ trực tiếp về Đấng Christ sau khi Phục Sinh và Thăng Thiên, khi Ngài trở về thiên đàng và để lại những người theo Ngài trên đất với sứ mệnh cụ thể.

Trong Ma-thi-ơ 25, chuyến đi xa của người chủ tiêu biểu cho khoảng thời gian từ khi Đấng Christ thăng thiên cho tới khi Ngài tái lâm. Đặc biệt là trong Kỳ Tận Thế, khi những con dân Chúa được ủy thác phải hoạt động không có sự hiện diện thể xác của Ngài, trong bóng tối của cơn thịnh nộ và sự bắt bớ.

“Gọi các đầy tớ của mình”: Đây là sự chủ động từ phía người chủ. Ông không chờ đầy tớ đến xin việc. Ông gọi họ đến và giao việc. Điều này phản ánh nguyên tắc quan trọng: Mọi sứ mệnh và ân tứ đều xuất phát từ ý muốn của Chúa, không phải từ sự tự nguyện hay tài năng của loài người. Sứ Đồ Phao-lô đã khẳng định trong Ê-phê-sô 2:10:

“Vì chúng ta là việc do Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đấng Christ Jesus cho những việc lành, mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước, để chúng ta bước đi trong chúng.”

“Giao cho họ những tài sản của mình”: Một chi tiết Thần học vô cùng quan trọng. Đây là tài sản của người chủ, không phải tài sản của đầy tớ. Ta-lâng không phải là thứ đầy tớ sở hữu. Đó là thứ họ được ủy thác tạm thời. Điều này định hình toàn bộ mối quan hệ: đầy tớ không có quyền tự do hoàn toàn với ta-lâng, vì đó không phải là của họ. Họ là người quản lý, không phải người chủ.

Phao-lô áp dụng nguyên tắc này cho mọi con dân Chúa:

“Vậy, ai nấy hãy xem chúng tôi như những tôi tớ của Đấng Christ và những quản gia cho các sự mầu nhiệm của Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự đòi hỏi nơi những quản gia là sự một người phải được xem là trung tín.” (I Cô-rinh-tô 4:1-2).

Sứ mệnh, ân tứ, cơ hội, thời gian, sức khỏe, tài chính… tất cả đều là tài sản của Chúa được ủy thác cho loài người.

Về giá trị của ta-lâng: Vì ngụ ngôn này được Đức Chúa Jesus phán dạy cho người I-sơ-ra-ên, ta-lâng Hê-bơ-rơ là tiêu chuẩn phù hợp nhất. Một ta-lâng tương đương khoảng 15–20 năm lương của một người lao động phổ thông trong thế kỷ thứ nhất. Năm ta-lâng tương đương 75–100 năm lương. Đó là một tài sản khổng lồ hoàn toàn ngoài tầm với của bất cứ người bình dân nào. Điều này nhấn mạnh rằng Chúa không ủy thác những điều nhỏ nhặt. Ngài trao phó những điều có giá trị vĩnh cửu, những điều ảnh hưởng đến linh hồn loài người và đến Vương Quốc của Ngài.

Trong bối cảnh Kỳ Tận Thế, “ta-lâng” không đơn thuần là tiền bạc hay tài năng bẩm sinh. Ta-lâng đại diện cho tổng thể những gì Đấng Christ trao cho một người để người ấy phục vụ Ngài. Chúng bao gồm các ân tứ thuộc linh, sự hiểu biết Thánh Kinh, mối quan hệ và ảnh hưởng, địa vị và quyền thế, sức khỏe thể chất, tài nguyên vật chất, và đặc biệt: cơ hội phục vụ trong bối cảnh lịch sử cụ thể của mình.

“Mỗi người tùy theo khả năng riêng”: Đây là nguyên tắc Thần học trung tâm của toàn bộ ngụ ngôn. Người chủ không phân phối ta-lâng ngẫu nhiên hay tùy tiện. Ông phân phối theo sự hiểu biết hoàn hảo về khả năng của từng đầy tớ. Đấng Christ là Đấng Toàn Tri. Ngài biết chính xác mỗi người có thể gánh chịu và sử dụng bao nhiêu. Bên cạnh đó, Đức Chúa Trời cũng đã định sẵn cho mỗi người một chỗ đứng trong chương trình của Ngài. Mỗi người được ban cho đúng và đủ để hoàn thành mục đích mà Đức Chúa Trời đã định cho người ấy.

Chiếc xe máy có bình xăng và bộ máy nhỏ hơn chiếc xe khách, còn chiếc xe khách có bình xăng và bộ máy nhỏ hơn chiếc xe vận tải. Mỗi loại xe được thiết kế và chế tạo cho một mục đích nhất định. Chúng đều cần thiết cho cuộc sống trong xã hội.

Điều này giải phóng loài người khỏi hai cạm bẫy:

  • Cạm bẫy ganh tị: “Tại sao người kia được nhiều hơn tôi?”
  • Cạm bẫy kiêu ngạo: “Tại sao tôi được nhiều hơn người kia?

Câu trả lời cho cả hai là: Vì Chúa biết điều tốt nhất cho mỗi người và cho toàn bộ chương trình của Ngài.

Trong bối cảnh Kỳ Tận Thế: Nhóm 144.000 người I-sơ-ra-ên nhận năm ta-lâng vì họ được Đức Chúa Trời chuẩn bị và trang bị đặc biệt. Họ sẽ là những người dành trọn đời sống cho Đức Chúa Trời. Những người khác nhận ít hơn vì hoàn cảnh, nền tảng, và mức độ chuẩn bị của họ khác nhau.

“Rồi người ấy đã lập tức lên đường”: Không có sự chần chừ, không có thời gian huấn luyện thêm. Người chủ giao ta-lâng rồi đi ngay. Điều này nói lên rằng trách nhiệm bắt đầu ngay lập tức. Không có giai đoạn “làm quen” hay “tập sự”.

Đây cũng nói lên sự tin tưởng của người chủ đối với đầy tớ. Ông không ở lại giám sát, không đặt ra quy trình báo cáo định kỳ. Ông tin tưởng đầy tớ đủ để ra đi mà không lo lắng. Chúa tin tưởng loài người đủ để trao cho họ bổn phận thật sự. Vì vậy, sự thất bại của họ cũng là trách nhiệm thật sự.

Ma-thi-ơ 25:16-18

16 Người đã nhận năm ta-lâng đã đi, kinh doanh với chúng và đã thu lợi thêm năm ta-lâng.

17 Người đã nhận hai ta-lâng cũng vậy, đã thu lợi thêm hai ta-lâng.

18 Nhưng người đã nhận một ta-lâng đã đi, đào đất và giấu tiền của chủ mình.

Ba câu này mô tả hai phản ứng hoàn toàn khác nhau trước cùng một sự ủy thác. Sự khác biệt giữa chúng chính là sự khác biệt giữa được thưởng và bị phán xét.

“Người đã nhận năm ta-lâng đã đi, kinh doanh với chúng”: Hành động đầu tiên của người nhận năm ta-lâng là “đã đi”. Người ấy không ngồi đó suy nghĩ xem nên làm gì, không chờ điều kiện thuận lợi, không tổ chức hội họp để lên kế hoạch. Người ấy nhận ta-lâng và đi ngay. Đây là hình ảnh của sự vâng lời tức thì và hoạt động không chần chừ.

“Đã kinh doanh” hay “đã làm việc với” chỉ sự nỗ lực chủ động và bền bỉ. Đây không phải là một hành động ngẫu nhiên, nhưng là kết quả của sự làm việc chăm chỉ và thông minh.

Khải Huyền 7:3-8 cho thấy 144.000 người I-sơ-ra-ên được đóng ấn và bảo vệ đặc biệt để họ có thể thực hiện sứ mệnh. Họ dùng tất cả những gì được trao để sinh ra kết quả tối đa cho Vương Quốc của Đức Chúa Trời.

Kết quả: thu lợi thêm năm ta-lâng, tức là gấp đôi những gì đã nhận. Điều này không phải ngẫu nhiên. Người làm việc với năm ta-lâng không thu lợi được ba hay bốn ta-lâng. Họ thu lợi đúng năm ta-lâng. Đây là hình ảnh của sự trung tín trọn vẹn, không bị phân tâm, không tiêu xài riêng tư, không bị mất mát vô lý.

“Người đã nhận hai ta-lâng cũng vậy, đã thu lợi thêm hai ta-lâng”: Hai chữ “cũng vậy” là chìa khóa để hiểu người nhận hai ta-lâng. Người ấy không làm điều gì khác về chất lượng nhưng cũng đi, cũng kinh doanh, cũng trung tín. Người ấy chỉ khác về phạm vi và số lượng, vì xuất phát với ít hơn.

Đây là một trong những nguyên tắc công bằng nhất trong toàn bộ Thánh Kinh: Chúa không so sánh kết quả tuyệt đối của người này với kết quả tuyệt đối của người kia. Ngài so sánh tỷ lệ trung tín của mỗi người với những gì họ đã nhận. Người nhận hai ta-lâng và sinh ra thêm hai ta-lâng đã thành công y như người nhận năm ta-lâng và sinh ra thêm năm ta-lâng.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người tin Chúa trong Kỳ Tận Thế với tài nguyên hạn chế hơn. Họ không có sự chuẩn bị đầy đủ như 144.000 người được đóng ấn. Họ phải hoạt động trong hoàn cảnh bị bắt bớ khốc liệt, nhiều người trong số họ sẽ bị giết vì đức tin (Khải Huyền 13:7). Nhưng với những gì họ có, dù chỉ là hai ta-lâng, nếu họ trung tín hoàn toàn, phần thưởng của họ sẽ ngang bằng với người nhận năm ta-lâng. Câu 23 sẽ xác nhận điều này.

“Nhưng người đã nhận một ta-lâng đã đi, đào đất và giấu tiền của chủ mình”: Chữ “nhưng” đánh dấu sự tương phản hoàn toàn. Người thứ ba cũng “đã đi”, nhưng người ấy đi để chôn giấu thay vì để kinh doanh. Hành động của người ấy hoàn toàn đối lập với hai người kia. Trong khi hai người kia đi ra, gặp gỡ, đầu tư, chấp nhận có thể thua lỗ, người này đào đất và giấu ta-lâng xuống.

“Đào đất”: Đây là hành động đòi hỏi nỗ lực. Người nhận một ta-lâng không phải là người lười biếng hoàn toàn theo nghĩa thể xác. Người ấy đã bỏ công đào đất. Nhưng nỗ lực của người ấy được dùng để bảo tồn nguyên trạng thay vì để sinh lời. Đây là hình ảnh của sự nỗ lực sai hướng: bỏ nhiều công sức vào việc giữ cho mọi thứ không thay đổi, thay vì bỏ công sức vào việc phát triển.

Tại sao người ấy chôn giấu thay vì đầu tư? Câu 24-25 sẽ tiết lộ lý do. Và lý do đó là nỗi sợ hãi dựa trên sự hiểu biết sai lệch về chủ của mình. Nhưng ngay cả trước khi nghe lý do, chúng ta có thể nhận ra: ta-lâng bị chôn giấu không thể sinh lời. Đây là thực tế kinh tế hiển nhiên. Đức Chúa Jesus dùng nó để nói lên một thực tế thuộc linh: Ân tứ không được sử dụng không thể phát triển. Sứ mệnh không được thực hiện không thể sinh ra kết quả.

Trong bối cảnh Kỳ Tận Thế: người nhận một ta-lâng đại diện cho những người biết về Đức Chúa Trời, nhận được cơ hội phục vụ Ngài, nhưng chọn sự an toàn cá nhân hơn là sự trung tín với sứ mệnh. Trong thời kỳ AntiChrist, đây là cám dỗ lớn nhất: giữ im lặng, không làm chứng, không nổi bật, để bảo toàn mạng sống. Nhưng Đức Chúa Jesus đã từng nói:

“Vì nếu bất cứ ai muốn cứu sự sống của mình thì sẽ mất nó, còn nếu bất cứ ai vì Ta mà mất sự sống của mình thì sẽ tìm được nó.” (Ma-thi-ơ 16:25).

Ngày nay trong Hội Thánh cũng có những người mỗi ngày lo tìm kiếm tiện nghi đời sống trong thế gian thay vì làm lợi ra những ta-lâng Chúa ban cho mình. Họ có thể bận rộn, nhưng sự bận rộn của họ là đào đất và chôn giấu các ân tứ Chúa ban, không phải kinh doanh và sinh lợi.

Ma-thi-ơ 25:19-21

19 Sau một thời gian, chủ của những đầy tớ ấy trở về và tính sổ với họ.

20 Người đã nhận năm ta-lâng đã đến, đem đến năm ta-lâng khác nữa và thưa rằng: ‘Lạy chúa, ngài đã cho tôi năm ta-lâng. Này, tôi đã thu lợi thêm năm ta-lâng.’

21 Chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm! Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc. Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi!’

“Sau một thời gian, chủ của những đầy tớ ấy trở về”: Đây là khoảnh khắc Đấng Christ tái lâm trên đất.

“Tính sổ với họ”: Có nghĩa là “giải quyết tài khoản, thanh toán sổ sách.” Đây là hình ảnh của cuộc phán xét vào cuối Kỳ Tận Thế, khi Đấng Christ ngồi trên ngai vinh hiển và xét xử tất cả mọi người về những gì họ đã làm trong thời gian Ngài vắng mặt. II Cô-rinh-tô 5:10 xác nhận:

“Vì hết thảy chúng ta đều phải ứng hầu trước ngai phán xét của Đấng Christ, để mỗi người nhận lãnh theo những sự mà người ấy đã hành động qua thân thể, hoặc thiện, hoặc ác.”

Người nhận năm ta-lâng đến trước. Chúng ta cần chú ý về thái độ của người ấy. Người ấy đến với sự tự tin. Không phải tự tin vào bản thân mình, mà tự tin vào sự trung tín của mình. Người ấy không cần che giấu bất cứ điều gì, không cần sửa soạn câu chuyện, không cần biện hộ.

“Lạy chúa, ngài đã cho tôi năm ta-lâng”: Câu đầu tiên của người ấy là sự thừa nhận nguồn gốc. Người ấy không nói “tôi đã có năm ta-lâng” mà nói “ngài đã cho tôi năm ta-lâng.” Đây là tâm thái của người quản lý trung tín: luôn nhớ rằng mọi thứ mình có đều là từ chủ, không phải là của mình.

Điều này phản ánh thái độ của Vua Đa-vít khi dâng hiến cho việc xây dựng Đền Thờ:

“Nhưng tôi là ai, và dân sự tôi là gì, mà chúng tôi có sức dâng cách vui lòng như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến; và những vật chúng tôi đã dâng cho Chúa chẳng qua là đã thuộc về Chúa.” (I Sử Ký 29:14).

Và lời của Sứ Đồ Phao-lô:

“Vì sự gì phân biệt ngươi với người khác? Sự gì ngươi có mà không do ngươi nhận lãnh? Nếu ngươi cũng nhận lãnh sao ngươi khoe mình như ngươi chẳng từng nhận lãnh?” (I Cô-rinh-tô 4:7).

“Này, tôi đã thu lợi thêm năm ta-lâng”: Đây là sự trình bày bằng chứng cụ thể. Người ấy không nói về ý định, không nói về kế hoạch, không nói về khó khăn, chỉ trình bày kết quả. Đây là điều Chúa tìm kiếm: không phải lý thuyết hay kế hoạch, mà là thành quả thật sự.

Đức Chúa Jesus đã từng dạy: “Các ngươi sẽ nhận biết chúng bởi những trái của chúng” (Ma-thi-ơ 7:16). Kết quả là bằng chứng của sự trung tín, và người nhận năm ta-lâng có đủ bằng chứng để trình bày.

“Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm”: Đây là lời khen ngợi đáng ao ước nhất trong Thánh Kinh. Không phải lời khen về tài năng, không phải lời khen về sự thông minh hay vẻ bề ngoài, mà là lời khen về phẩm cách ngay lành và trung tín.

“Ngay lành”: Đây là người có tấm lòng tốt, lương thiện, có đạo đức trong từng giao dịch. Người ấy không dùng ta-lâng của chủ cho mục đích riêng, không lừa dối, không thỏa hiệp với sự gian ác để đạt kết quả nhanh hơn.

“Trung tín”: Đây là người đáng tin cậy, người làm đúng những gì đã hứa, người không từ bỏ sứ mệnh dù hoàn cảnh khó khăn. Đây là phẩm chất Chúa tìm kiếm nhất nơi loài người:

“Tuy nhiên, sự đòi hỏi nơi những quản gia là sự một người phải được xem là trung tín.” (I Cô-rinh-tô 4:2).

“Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc”: Đây là nguyên tắc tiến cấp trong Vương Quốc của Đức Chúa Trời.

Người chủ gọi năm ta-lâng là “các việc nhỏ”. Điều này có vẻ lạ khi năm ta-lâng là một tài sản khổng lồ. Nhưng so với sự quản lý trong Vương Quốc Trời thì sứ mệnh trong Kỳ Tận Thế chỉ là “các việc nhỏ.” Phần thưởng cho sự trung tín trong việc nhỏ là được giao “nhiều việc”, tức là trách nhiệm cai trị trong Vương Quốc Ngàn Năm.

Lu-ca 19:17-19 (ngụ ngôn song song về nén bạc) xác định rõ hơn: người trung tín làm thêm ra mười nén bạc được “cai quản mười thành”, người trung tín làm thêm ra năm nén bạc được “cai quản năm thành.” Đó là hình ảnh cụ thể của phần thưởng trong Vương Quốc Trời. Những người trung tín trong Kỳ Tận Thế sẽ được trao trách nhiệm cai trị trong Vương Quốc Ngàn Năm.

Đó cũng là sự ứng nghiệm của lời hứa trong Khải Huyền:

“Người nào thắng và giữ các việc của Ta cho tới cuối cùng, Ta sẽ ban cho người uy quyền trên các quốc gia. Người sẽ cai trị chúng bằng một cây gậy sắt, chúng sẽ vỡ tan như các bình bằng đất. Như Ta đã nhận uy quyền từ Cha của Ta.” (Khải Huyền 2:26-27).

“Ngài đã làm cho chúng tôi thành những vua và những thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cai trị trên đất.” (Khải Huyền 5:10).

“Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi”: Đây là lời mời vào Tiệc Cưới Chiên Con trên đất, vào sự chia sẻ niềm vui của Đấng Christ khi Vương Quốc của Ngài được thiết lập. Không phải chỉ là được vào, mà là được chia sẻ niềm vui của chủ. Đây là mức độ thân mật sâu sắc nhất có thể có giữa Đấng Christ và loài người.

“Những điều này Ta đã nói với các ngươi, để cho sự vui mừng của Ta cứ ở trong các ngươi, và sự vui mừng của các ngươi được đầy trọn.” (Giăng 15:11).

Sự vui mừng của người chủ trở thành sự vui mừng của đầy tớ. Đây là sự ứng nghiệm trọn vẹn của điều Đức Chúa Jesus cầu nguyện trong Giăng 17:13.

Ma-thi-ơ 25:22-23

22 Người đã nhận hai ta-lâng cũng đến, thưa rằng: ‘Lạy chúa, ngài đã cho tôi hai ta-lâng. Này, tôi đã thu lợi thêm hai ta-lâng.’

23 Chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm! Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc. Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi!’

Đây là một trong những đoạn Thánh Kinh đẹp nhất về sự công bằng thiên thượng.

Chúng ta hãy để ý: lời khen của người chủ dành cho người nhận hai ta-lâng hoàn toàn giống hệt lời khen dành cho người nhận năm ta-lâng. Từng chữ, từng cụm từ, từng lời hứa thưởng. Không có bất cứ sự phân biệt nào trong cách nói, trong mức độ ưu ái, hay trong phần thưởng được hứa:

  • Danh xưng: “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, được lắm!”
  • Nguyên cớ: “Ngươi đã trung tín trong các việc nhỏ”.
  • Phần thưởng: “Ta sẽ đặt ngươi quản lý trong nhiều việc.”
  • Lời mời: “Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi!”

Điều này nói lên một nguyên lý nền tảng: Chúa không đánh giá chúng ta theo giá trị tuyệt đối của những gì chúng ta đạt được, mà theo mức độ trung tín tương xứng với những gì chúng ta đã nhận.

Người nhận hai ta-lâng không thể đạt được kết quả mười ta-lâng, và Chúa không đòi hỏi điều đó. Ngài chỉ đòi hỏi rằng mỗi người dùng trọn vẹn những gì mình có cho Ngài.

Đây là nguyên tắc mà Đức Chúa Jesus đã minh họa qua Mác 12:41-44 và Lu-ca 21:1-4: Một bà góa khó nghèo bỏ vào rương dâng hiến hai đồng xu nhỏ, ít hơn nhiều so với những người giàu. Nhưng Đức Chúa Jesus phán: “Bà góa khó nghèo này đã đặt vào nhiều hơn hết thảy những người đã đặt tiền vào rương đựng tiền dâng. Vì hết thảy họ đã đặt vào rương từ sự dư dật của mình, còn bà thì đặt vào từ hết thảy sự thiếu thốn của mình, với hết thảy những gì bà có, tận hết thảy sự nuôi sống mình.”

Bà góa khó nghèo chỉ dâng hai đồng xu, nhưng tỷ lệ của bà là 100% những gì bà có. Những người giàu dâng nhiều, nhưng tỷ lệ của họ chỉ là một phần nhỏ từ sự dư dật. Chúa nhìn vào tỷ lệ, không chỉ vào số lượng tuyệt đối.

Những người tin Chúa trong Kỳ Tận Thế không có sự trang bị của 144.000 người I-sơ-ra-ên được đóng ấn. Họ phải hoạt động trong hoàn cảnh bị bắt bớ tàn khốc hơn. Nhiều người trong số họ sẽ chết vì đức tin (Khải Huyền 13:7; 20:4). Nhưng nếu họ trung tín hoàn toàn với những gì họ có, phần thưởng của họ sẽ bình đẳng với phần thưởng của nhóm 144.000 người I-sơ-ra-ên.

Đây là lời khích lệ mạnh mẽ nhất cho những ai cảm thấy mình ít được trang bị, ít có tài năng, ít có cơ hội hơn người khác: Chúa không so sánh chúng ta với người khác. Ngài chỉ so sánh chúng ta với chính chúng ta, cụ thể là với những gì Ngài đã trao cho chúng ta.

Nguyên lý này cũng áp dụng cho mọi tín đồ trong thời đại Hội Thánh:

  • Đừng ganh tị với những người có ân tứ lớn hơn, có cơ hội nhiều hơn, có tầm ảnh hưởng rộng hơn. Chúa sẽ không hỏi bạn: “Tại sao con không làm được như người ấy?” Ngài sẽ hỏi: “Con đã làm gì với những gì Ta đã cho con?”
  • Đừng khinh thường những người có ân tứ nhỏ hơn, có cơ hội ít hơn. Họ có thể nhận phần thưởng ngang bằng với bạn nếu họ trung tín với những gì họ có.
  • Hãy tập trung vào sự trung tín, không phải vào quy mô kết quả. Một người dạy một lớp nhỏ ấu nhi với tất cả tấm lòng có thể được thưởng nhiều hơn một người thuyết giảng trước hàng ngàn người với động cơ sai lệch.

Chúng ta cần ghi nhớ điều này: Chúa luôn luôn xét ở tấm lòng.

Ma-thi-ơ 25:24-25

24 Người đã nhận một ta-lâng cũng đến, thưa rằng: ‘Lạy chúa, tôi đã biết ngài, rằng ngài là người nghiêm khắc, gặt trong chỗ mình không gieo, thu hoạch trong chỗ mình không rải ra.

25 Tôi đã sợ, đi giấu ta-lâng của ngài trong đất. Này, ngài có vật của ngài.’

Đây là một trong những đoạn có chiều sâu tâm lý và Thần học phong phú nhất trong toàn bộ Tân Ước. Sự thất bại của người nhận một ta-lâng không phải là do thiếu thông minh, thiếu cơ hội, hay thiếu tài nguyên. Nó bắt nguồn từ một sự hiểu biết hoàn toàn sai lệch về bản tính của người chủ.

“Lạy chúa, tôi đã biết ngài”: Người ấy bắt đầu bằng sự tự tin: “tôi biết ngài”. Nhưng chính sự “biết” này là vấn đề. Người ấy nghĩ mình hiểu người chủ, nhưng sự hiểu biết của người ấy là sự hiểu biết méo mó, một chiều, và cuối cùng là sai lệch hoàn toàn.

“Ngài là người nghiêm khắc”: Từ “nghiêm khắc” có nghĩa là cứng nhắc, khắt khe, không có lòng thương xót. Đây là hình ảnh của một người chủ độc tài, lạnh lùng, chỉ biết đòi hỏi mà không ban cho, chỉ biết phán xét mà không biết yêu thương.

“Gặt trong chỗ mình không gieo, thu hoạch trong chỗ mình không rải ra”: Đây là cáo buộc gián tiếp rằng người chủ bất công. Cáo buộc rằng ông muốn lấy những gì ông không đóng góp, hưởng những gì ông không vất vả để có được.

Nhưng đây là mâu thuẫn tự phản bác: Nếu người chủ thật sự khắt khe và bất công như vậy, thì việc giấu ta-lâng càng làm tình trạng tệ hơn, không phải tốt hơn! Một người lo sợ người chủ khắt khe nên càng cố gắng hơn để làm hài lòng ông, không phải ít cố gắng hơn. Điều này cho thấy lý do của người nhận một ta-lâng là không hợp lý về mặt lý luận. Đây không thật sự là lý do, mà chỉ là lý cớ biện hộ.

Sự thật là gì? Người nhận một ta-lâng sợ hãi không vì người chủ khắt khe, mà vì người ấy không thật sự tin tưởng người chủ đủ để mạo hiểm vì chủ. Sự sợ hãi của người ấy là sự sợ hãi của người không có mối quan hệ thật sự, của người nhìn người chủ như kẻ thù tiềm tàng thay vì người cha đầy ân điển.

Điều này phản ánh một thực tế thuộc linh sâu sắc: Cách một người hiểu bản tính của Chúa sẽ quyết định cách người đó phục vụ Ngài.

  • Người hiểu Chúa là Đấng yêu thương, công chính, đầy ân điển sẽ phục vụ Ngài với lòng biết ơn và niềm vui.
  • Người hiểu Chúa là Đấng khắt khe, độc đoán, chỉ biết đòi hỏi sẽ phục vụ Ngài (nếu có) trong sự sợ hãi và oán giận, hoặc trốn tránh hoàn toàn.

Sứ Đồ Giăng đã xác nhận:

“Chẳng có sự sợ hãi trong tình yêu, nhưng tình yêu trọn vẹn thì cất đi sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt. Ai sợ hãi thì không được trọn vẹn trong tình yêu.” (I Giăng 4:18).

Người nhận một ta-lâng không có tình yêu thương, người ấy chỉ có sự sợ hãi. Và sự sợ hãi đó làm tê liệt người ấy hoàn toàn.

“Tôi đã sợ, đi giấu ta-lâng của ngài trong đất”: Đây là hậu quả trực tiếp của sự nhận thức méo mó về Chúa. Nỗi sợ hãi không dẫn đến sự cẩn thận trong việc sử dụng ta-lâng. Nó dẫn đến sự tê liệt hoàn toàn. Người này thà không làm gì còn hơn là mạo hiểm có thể dẫn đến thất bại.

Đây là tội lỗi tinh vi nhất và nguy hiểm nhất trong đời sống thuộc linh: không phạm tội bằng hành động xấu, mà vì sự không hành động. Người nhận một ta-lâng không trộm cắp, không phá hủy, không làm gì sai. Người ấy chỉ không làm gì. Và chính sự không làm gì đó là tội lỗi của người ấy.

Ê-xê-chi-ên 3:18-19 cảnh báo về tội không hành động:

“Khi Ta nói với kẻ dữ rằng: Ngươi chắc sẽ chết! Nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó để khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó không từ bỏ sự dữ cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó; còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.”

Im lặng khi cần lên tiếng, không hành động khi cần hành động, đây là tội lỗi thật sự của người nhận một ta-lâng.

“Này, ngài có vật của ngài”: Câu cuối này là đỉnh cao của sự tự hợp lý hóa. Người ấy trình bày ta-lâng nguyên vẹn như thể đây là bằng chứng của sự trung tín: “Tôi đã giữ nguyên những gì ngài giao cho tôi.” Theo người ấy, không mất mát là bằng chứng đủ của sự trung tín.

Nhưng đây là sự hiểu lầm hoàn toàn về mục đích của sự ủy thác. Người chủ không ủy thác ta-lâng để chúng được giữ nguyên. Ông ủy thác để chúng sinh lời. Trả lại đúng số lượng ban đầu không phải là trung tín. Đó là thất bại hoàn toàn.

Ma-thi-ơ 25:26-27

26 Nhưng chủ của người đã nói với người: ‘Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác! Ngươi đã biết rằng ta gặt trong chỗ ta không gieo, và ta thu hoạch trong chỗ ta không rải ra.

27 Vậy, ngươi phải đưa tiền của ta cho người đổi tiền. Khi ta trở về, ta sẽ nhận tiền của ta với tiền lời.

Lời phán xét của người chủ mang hai đặc điểm đáng chú ý: sự nghiêm khắc và sự công bằng tuyệt đối.

“Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác”: So sánh với “đầy tớ ngay lành và trung tín” trong câu 21 và 23, chúng ta thấy sự tương phản hoàn toàn.

“Ngay lành” đối nghịch với “dữ”. “Dữ” không phải tội ác theo nghĩa trộm cướp giết người mà là vô dụng, xấu xa trong bản chất, không đem lại ích lợi.
“Trung tín” đối nghịch với “biếng nhác: sự lười biếng, tránh né trách nhiệm.
Người chủ không gọi người ấy là “kẻ thù” hay “kẻ phản bội” mà gọi người ấy là “đầy tớ dữ và biếng nhác.” Điều này xác nhận rằng người nhận một ta-lâng vẫn là đầy tớ, vẫn thuộc về cộng đồng của người chủ, nhưng là đầy tớ thất bại, đầy tớ không xứng đáng với sự ủy thác.

“Ngươi đã biết rằng ta gặt trong chỗ ta không gieo”: Người chủ không bác bỏ mô tả của đầy tớ về ông. Thoạt nhìn, đây có vẻ kỳ lạ. Tại sao người chủ lại chấp nhận bị mô tả là người “gặt nơi mình không gieo”? Đây không phải là sự thừa nhận bất công. Đây là sự chấp nhận một sự thật biểu tượng sâu sắc hơn:

Chúa thật sự là Đấng “gặt nơi Ngài không gieo” theo một nghĩa quan trọng: Ngài đòi hỏi lợi tức từ tài năng mà Ngài ban cho loài người. Ngài ban cho loài người tài năng, cơ hội, thời gian, ân tứ… và Ngài đòi lại lợi tức từ những điều đó. Ngài đã “gieo” bằng cách ban cho, và Ngài “gặt” bằng cách đòi lợi tức. Đây không phải là bất công. Đây là đặc tính mối quan hệ giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật.

Lập luận hợp lý của người chủ: Nếu ngươi thật sự tin Ta là người khắt khe như vậy, thì ngươi càng phải cẩn thận hơn với ta-lâng của Ta. Sự thừa nhận của ngươi về bản tính của Ta không biện hộ cho ngươi. Trái lại, nó lên án ngươi.

“Vậy, ngươi phải đưa tiền của ta cho người đổi tiền”: Đây là phương án tối thiểu mà người chủ đã kỳ vọng.

Ngay cả khi đầy tớ không có khả năng kinh doanh, không có thời gian hay kỹ năng để đầu tư, người ấy vẫn có thể đặt tiền vào tay người đổi tiền (ngân hàng thời xưa) để lấy lời. Đó là hành động tối thiểu nhất, thụ động nhất, ít thua lỗ nhất.

Điều này nói lên rằng Chúa không đòi hỏi sự hoàn hảo hay thành công lớn. Ngài đòi hỏi sự cố gắng tối thiểu. Ngay cả hành động nhỏ nhất, đặt ta-lâng vào tay người có khả năng hơn để nó sinh lời, cũng đã đủ để tránh khỏi sự phán xét.

Trong bối cảnh thuộc linh:

  • Nếu không thể trực tiếp rao giảng Tin Lành, ít nhất hãy hỗ trợ những người đang rao giảng.
  • Nếu không thể trực tiếp làm chứng, ít nhất hãy cầu thay cho những ai đang làm chứng.
  • Nếu không thể mở miệng, ít nhất hãy mở ví.

Bất cứ hành động trung tín nào, dù nhỏ đến đâu, đều tốt hơn là không làm gì.

“Khi ta trở về, ta sẽ nhận tiền của ta với tiền lời”: Người chủ xác nhận rằng ông sẽ đòi lợi tức. Điều này không phải là đòi hỏi phi lý. Đây là kỳ vọng chính đáng và không thể thay đổi.

Người chủ đã đầu tư và ông có quyền mong đợi lợi nhuận. Đấng Christ đã ban cho loài người sự sống, ân tứ, cơ hội, và chính Ngài đã trả giá bằng mạng sống mình để cứu chuộc họ. Ngài có quyền đòi hỏi lợi tức từ những gì Ngài đã đầu tư.

Ma-thi-ơ 25:28-30

28 Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng từ nó và đưa cho người có mười ta-lâng.

29 Vì bất cứ ai có thì sẽ được cho và người ấy sẽ có dư dật; nhưng kẻ không có thì điều nó có sẽ bị cất khỏi nó.

30 Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài; tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng.’

“Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng từ nó”: Hình phạt đầu tiên là sự tước đoạt. Ta-lâng duy nhất của người nhận một ta-lâng bị lấy đi. Đây không phải là hành động trả thù. Đây là hậu quả tự nhiên và hợp lý của sự không sử dụng.

Trong thế giới tự nhiên, bất cứ khả năng nào không được dùng đến sẽ teo đi và mất dần.

  • Cơ bắp không được dùng sẽ teo.
  • Kỹ năng không được thực hành sẽ mờ nhạt.
  • Ngôn ngữ không được sử dụng sẽ bị lãng quên.

Đây là quy luật tự nhiên và Chúa áp dụng cùng nguyên tắc đó trong Vương Quốc của Ngài.

“Đưa cho người có mười ta-lâng”: Ta-lâng bị lấy đi không bị hủy bỏ mà được chuyển đến người đã sử dụng tốt nhất những gì mình có.

Đây có vẻ bất công theo tiêu chuẩn loài người. Người đã có mười ta-lâng lại nhận thêm một ta-lâng nữa? Nhưng nguyên tắc đằng sau là: tài nguyên Vương Quốc nên nằm trong tay những người sử dụng chúng hiệu quả nhất.

“Vì bất cứ ai có thì sẽ được cho và người ấy sẽ có dư dật”: Đây là nguyên tắc của Vương Quốc Trời được Đức Chúa Jesus lặp lại nhiều lần (Ma-thi-ơ 13:12; Mác 4:25; Lu-ca 8:18; 19:26).

Nguyên tắc này không nói về sự bất công của loài người (người giàu được ưu ái hơn người nghèo) mà nói về quy luật tăng trưởng thuộc linh.

  • Người đang tăng trưởng sẽ tiếp tục nhận thêm để tăng trưởng thêm.
  • Người đang trì trệ không chỉ không tăng trưởng mà còn mất đi những gì mình có.

“Nhưng kẻ không có thì điều nó có sẽ bị cất khỏi nó”: Đây là lời cảnh báo nghiêm khắc nhất. Người “không có” theo nghĩa đang sở hữu nhưng không sử dụng. Và vì không sử dụng, cuối cùng sẽ mất đi ngay cả những gì đang có.

“Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài”: Đây là hình phạt thứ nhì và là hình phạt tối hậu: sự bị loại trừ khỏi Vương Quốc Trời.

Từ ngữ “tên đầy tớ vô ích” không có nghĩa là xấu xa về mặt đạo đức, mà là không có ích lợi gì, không đóng góp gì, không có giá trị trong mối quan hệ. Người ấy vẫn là đầy tớ nhưng là đầy tớ đã hoàn toàn thất bại trong sứ mệnh của mình.

“Sự tối tăm, ở bên ngoài”: Đây là cụm từ xuất hiện ba lần trong Ma-thi-ơ (8:12; 22:13; 25:30), luôn luôn trong bối cảnh của những người bị loại trừ khỏi Vương Quốc Trời. “Bên ngoài” là điều đối lập với “vào trong sự vui mừng của chúa ngươi” trong câu 21 và 23. Trong khi hai người trung tín được mời vào bên trong, nơi có ánh sáng và niềm vui, người không trung tín bị ném ra bên ngoài, nơi có bóng tối và nỗi đau.

“Tại đó sẽ có sự khóc lóc và sự nghiến răng”: Đây là cụm từ Đức Chúa Jesus dùng để mô tả nỗi đau và sự hối hận cực độ của những người nhận ra quá muộn những gì mình đã đánh mất.

  • Khóc lóc là biểu hiện của nỗi đau và mất mát.
  • Nghiến răng là biểu hiện của sự tức giận, thất vọng, và tự trách bản thân.

Đây không phải là sự tàn nhẫn của Chúa, mà là hậu quả tự nhiên của sự lựa chọn của loài người. Họ đã có cơ hội nhưng đã chọn không hành động. Họ đã được giao ta-lâng nhưng đã chọn chôn giấu. Và bây giờ, khi thấy những người khác được vào hưởng niềm vui của chủ, họ chỉ còn biết khóc lóc và nghiến răng trong bóng tối bên ngoài.

Ngụ ngôn Các Ta-lâng, trong sự ứng nghiệm tiên tri của nó, là lời kêu gọi trực tiếp và khẩn thiết dành cho những người sẽ sống trong Kỳ Tận Thế, đặc biệt là dân I-sơ-ra-ên và những người tin Chúa trong giai đoạn đó.

Đối với nhóm 144.000 người I-sơ-ra-ên: Họ sẽ được chọn và đóng ấn để rao truyền Tin Lành cho đến tận cùng đất (Khải Huyền 7:3-8; 14:1-5). Họ sẽ trung tín, hoàn thành nhiệm vụ được giao, như những người nhận năm ta-lâng.

Đối với những người tin Chúa nhưng bị bỏ lại khi Chúa đem Hội Thánh ra khỏi thế gian và những người sẽ tin Chúa trong trong Kỳ Tận Thế: Các bạn có thể cảm thấy mình ít hơn, yếu hơn, không đủ trang bị như những người khác. Nhưng Chúa không đòi hỏi các bạn kết quả của người có năm ta-lâng. Ngài chỉ đòi hỏi các bạn trung tín với những gì các bạn có. Hai ta-lâng được dùng trọn vẹn mang lại phần thưởng ngang bằng với năm ta-lâng được dùng trọn vẹn. Đừng so sánh với người khác. Hãy trung tín với những gì được trao cho mình.

Lời cảnh báo về nguy cơ của sự sợ hãi: Sự sợ hãi AntiChrist, sợ mất mạng, sợ bị bắt bớ… tất cả những điều này là thật và đáng sợ. Nhưng sự sợ hãi không thể là lý do để chôn giấu ta-lâng. Khải Huyền 21:8 liệt kê những kẻ hèn nhát vào cùng danh sách với những kẻ không tin và những kẻ giết người. Vì sự hèn nhát thuộc linh có hậu quả nghiêm trọng. Đức Chúa Jesus đã phán trước:

“Ta bảo các ngươi, những bằng hữu của Ta, các ngươi đừng sợ những kẻ giết thân thể mà sau đó không thể làm gì hơn. Nhưng Ta sẽ chỉ cho các ngươi Đấng mà các ngươi nên sợ. Hãy sợ Đấng sau khi giết, có quyền ném vào trong hỏa ngục! Phải, Ta nói với các ngươi, hãy sợ Ngài!” (Lu-ca 12:4-5).

Dù ngụ ngôn Các Ta-lâng là lời tiên tri về thời Kỳ Tận Thế, những nguyên tắc của nó có giá trị muôn đời và áp dụng trực tiếp cho Hội Thánh trong thời đại ân điển. Thật ra, Hội Thánh ngày nay đang sống trong giai đoạn có nhiều cơ hội nhất để “kinh doanh với ta-lâng”, trước khi Đấng Christ đem Hội Thánh ra khỏi thế gian và Kỳ Tận Thế bắt đầu.

  • Bài học thứ nhất: Hãy nhận ra những ta-lâng Chúa đã trao cho bạn. Nhiều con dân Chúa sống cả đời mà không bao giờ nghiêm túc hỏi: “Chúa đã trao cho tôi những gì?” Ta-lâng không chỉ là tài năng âm nhạc hay khả năng diễn thuyết. Đó là tổng thể những gì Ngài đã ban cho bạn: bao gồm các ân tứ thuộc linh (I Cô-rinh-tô 12; Rô-ma 12:6-8), thời gian, tài chính, mối quan hệ và ảnh hưởng, kiến thức Thánh Kinh, kinh nghiệm sống, và cơ hội phục vụ trong bối cảnh cụ thể của cuộc đời bạn. Sứ Đồ Phi-e-rơ dạy:

“Theo như mỗi người đã nhận được ân tứ, hãy phục vụ lẫn nhau như những người quản lý tốt ân điển đa diện của Thiên Chúa.” (I Phi-e-rơ 4:10).

  • Bài học thứ nhì: Hãy chủ động “kinh doanh” với những gì Chúa đã trao. Sự trung tín không phải là trạng thái thụ động. Đó là sự chủ động. Người nhận năm ta-lâng và người nhận hai ta-lâng đều đi, đều hành động, đều chấp nhận có thể bị thua lỗ.

Sự trung tín đòi hỏi sự can đảm: can đảm để bước ra khỏi vùng an toàn, can đảm để phục vụ dù có thể thất bại, can đảm để đầu tư vào người khác và sứ mệnh dù kết quả không chắc chắn.

Phao-lô là hình mẫu của sự trung tín này:

“Vì đối với tôi: Sống là Đấng Christ và chết là điều ích lợi” (Phi-líp 1:21).

Khi mạng sống không còn là điều cần bảo vệ trên hết, mọi ta-lâng đều được dùng tự do cho Đấng Christ.

  • Bài học thứ ba: Hãy kiểm tra nhận thức của mình về Chúa. Người nhận một ta-lâng thất bại vì nhận thức sai lệch về người chủ của mình. Nhiều con dân Chúa phục vụ Chúa trong sự sợ hãi, nặng nề, và không vui vẻ. Không phải vì họ không tin Ngài, mà vì họ nhận thức về Ngài cách sai lệch. Đối với họ, Ngài là một Thiên Chúa chỉ đòi hỏi mà không ban cho, chỉ phán xét mà không yêu thương, chỉ theo dõi lỗi lầm mà không vui mừng về sự tăng trưởng. Đức Thánh Linh đã nhắc nhở Hội Thánh:

“Vì các anh chị em đã chẳng nhận lấy thần trí của nô lệ để lại sợ hãi; nhưng các anh chị em đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, nhờ đó, chúng ta gọi: A-ba! Cha!” (Rô-ma 8:15).

Đức Chúa Trời là Cha, không phải là bạo chúa. Ngài ban ta-lâng với sự tin tưởng và tình yêu thương, và Ngài trông đợi chúng ta phục vụ Ngài với lòng biết ơn và niềm vui, không phải với sự sợ hãi và gánh nặng.

  • Bài học thứ tư: Đừng chờ tới Kỳ Tận Thế mới hành động. Hội Thánh ngày nay có một đặc quyền mà dân I-sơ-ra-ên và những người sống trong Kỳ Tận Thế không có. Chúng ta đang sống trong thời đại ân điển, với đầy đủ Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, với Đức Thánh Linh ngự trong lòng mỗi con dân Chúa, với sự tự do tương đối để thờ phượng và phục vụ. Đây là thời gian của “năm ta-lâng”, thời gian dư dật nhất trong lịch sử ân điển của Đức Chúa Trời.

Nếu chúng ta không trung tín với ta-lâng Chúa ban trong thời đại ân điển, cơ hội có thể bị cất đi, trước khi chúng ta nhận ra. Sự Đấng Christ sẽ cất Hội Thánh ra khỏi thế gian đã rất gần. Khi đó, những ai chưa chuẩn bị, chưa trung tín, chưa dùng ta-lâng của mình, sẽ bị bỏ lại để đối mặt với Kỳ Tận Thế.

  • Bài học thứ năm: Phần thưởng là thật và xứng đáng để hướng đến. Hội Thánh ngày nay đôi khi ngại nói về phần thưởng, như thể việc phục vụ vì phần thưởng là điều thấp hèn hay ích kỷ. Nhưng Đức Chúa Trời không ngại hứa về phần thưởng và Đức Chúa Jesus không ngại dùng phần thưởng như sự khích lệ trong ngụ ngôn của Ngài. Hê-bơ-rơ 11:6 khẳng định: Đức Chúa Trời là Đấng Ban Thưởng.

Phần thưởng của sự trung tín là được vào trong sự vui mừng của Chúa, được quản lý nhiều hơn trong Vương Quốc của Ngài. Đó là phần thưởng khó mà tưởng tượng được. I Cô-rinh-tô 2:9:

“Nhưng, như có chép rằng: Mắt chưa thấy, tai chưa nghe, cũng chưa nổi lên trong lòng người những sự Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho những ai yêu Ngài.”

Ngụ ngôn Các Ta-lâng kết thúc với một sự tương phản không thể xóa nhòa: “Hãy đến, vào trong sự vui mừng của chúa ngươi” và “Hãy ném nó vào trong sự tối tăm, ở bên ngoài”.

Cùng một người chủ. Cùng một thời gian. Cùng một cơ hội. Nhưng hai số phận hoàn toàn trái ngược nhau, được quyết định bởi một câu hỏi duy nhất: “Ngươi đã làm gì với những gì Ta đã trao cho ngươi?”

Câu hỏi đó vang lên cho dân I-sơ-ra-ên trong Kỳ Tận Thế. Câu hỏi đó vang lên cho mỗi con dân Chúa trong Hội Thánh hôm nay. Và vào một ngày nào đó, một ngày không ai biết trước, câu hỏi đó sẽ được hỏi trực tiếp, mặt đối mặt, trước ngai của Đấng Christ.

Ngày ấy chắc chắn sẽ đến. Điều duy nhất chúng ta có thể thay đổi là câu trả lời mà chúng ta sẽ đem đến trước Chúa.

Chúng ta hãy cùng nhau học thuộc câu này:

“Tuy nhiên, sự đòi hỏi nơi những quản gia là sự một người phải được xem là trung tín.” (I Cô-rinh-tô 4:2).

Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
25/04/2026

Ghi Chú

Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.

Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.

Karaoke Thánh Ca: “Gặp Được Jesus”:

https://karaokethanhca.net/gap-duoc-jesus/

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.

Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh.

Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:

https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/