YouTube: https://youtu.be/MgSnoDdLTrc
Chú Giải Bốn Sách Tin Lành
Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ
TL141 Sự Phán Xét Cuối Kỳ Tận Thế
Ma-thi-ơ 25:31-46
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
Kính mời quý con dân Chúa dành thời gian nghe bài giảng này, có nhiều thí dụ và giải thích chi tiết hơn là phần bài viết.
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào nút “play” ► dưới đây để nghe
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để nghe hoặc tải xuống mp3 bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
- SoundCloud: Bấm vào đây
Bấm vào một trong các nối mạng dưới đây để đọc hoặc tải xuống pdf bài giảng này:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive: Bấm vào đây
Kho chứa MP3 các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Kho chứa pdf các bài giảng:
- MediaFire: Bấm vào đây
- OpenDrive:
1. Bấm vào đây
2. Bấm vào đây
Ma-thi-ơ 25:31-46
31 Khi Con Người đến trong sự vinh quang của mình cùng hết thảy các thiên sứ với Ngài, thì Ngài sẽ ngồi trên ngai vinh quang của Ngài.
32 Muôn dân sẽ được nhóm lại trước Ngài. Ngài sẽ phân rẽ họ, từ mỗi người ra khỏi nhau, như người chăn chiên phân rẽ những chiên ra khỏi những dê.
33 Thật, Ngài sẽ để những chiên bên tay phải của Ngài và những dê bên trái.
34 Bấy giờ, Vua sẽ phán với những người bên tay phải của Ngài: ‘Hãy đến, những người đã được Cha Ta ban phước! Hãy thừa kế vương quốc đã sắm sẵn cho các ngươi từ buổi dựng nền của thế gian!
35 Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp đón Ta;
36 Ta trần truồng, các ngươi đã mặc cho Ta; Ta bệnh, các ngươi đã thăm viếng Ta; Ta ở trong tù, các ngươi đã đến với Ta.’
37 Lúc ấy, những người công chính sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Ngài đói và cho Ngài ăn; hoặc khát và cho Ngài uống?
38 Lại khi nào chúng tôi đã thấy Ngài là khách lạ và tiếp đón Ngài; hoặc trần truồng và mặc cho Ngài?
39 Khi nào chúng tôi đã thấy Ngài bệnh, hoặc ở trong tù, và đến với Ngài?’
40 Vua sẽ đáp lời, phán với họ: ‘Thật! Ta nói với các ngươi, các ngươi đã làm cho một trong những anh chị em nhỏ nhất này của Ta đến mức độ nào là các ngươi đã làm đến mức độ ấy cho Ta.’
41 Kế đó, Ngài cũng sẽ phán với những người ở bên trái rằng: ‘Hãy lui khỏi Ta, hỡi những kẻ đã bị rủa! Hãy vào trong lửa vĩnh hằng đã sắm sẵn cho Ma Quỷ và những sứ giả của nó.
42 Vì Ta đói, các ngươi đã không cho Ta gì để ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho Ta gì để uống;
43 Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp đón Ta; Ta trần truồng, các ngươi đã không mặc cho Ta; Ta bệnh và ở trong tù mà các ngươi đã không thăm viếng Ta.’
44 Rồi, họ cũng sẽ đáp lời Ngài, thưa rằng: ‘Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Ngài đói, hoặc khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc bệnh, hoặc ở trong tù mà chúng tôi đã không phục vụ Ngài?’
45 Thì Ngài cũng sẽ trả lời họ, phán rằng: ‘Thật! Ta nói với các ngươi, các ngươi đã không làm cho một trong những người nhỏ này đến mức độ nào, thì các ngươi cũng đã không làm cho Ta đến mức độ ấy.’
46 Và những kẻ ấy sẽ đi vào hình phạt vĩnh cửu, còn những người công chính sẽ đi vào sự sống vĩnh cửu.”
Chúng ta đã đi qua hai ngụ ngôn lớn trong Ma-thi-ơ 25: ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh nói về sự luôn sống theo Lời Chúa và có đủ Lời Chúa trong lòng, cùng ngụ ngôn Các Ta-lâng nói về sự trung tín phụng sự Chúa. Giờ đây, chúng ta đến trước cảnh tượng vĩ đại nhất của thời chung cuộc, trong toàn bộ lời dạy của Đức Chúa Jesus: Cuộc Phán Xét Chiên và Dê.
Đây không còn là ngụ ngôn nữa. Không có câu mở đầu “Vương Quốc Trời giống như…” Đây là lời tiên tri trực tiếp, mô tả một sự kiện lịch sử cụ thể sẽ xảy ra, sau khi Đấng Christ tái lâm trên đất và tiêu diệt AntiChrist cùng những kẻ mang dấu của nó.
Để hiểu đúng lời tiên tri này, chúng ta cần thiết lập vài nền tảng Thần học quan trọng.
- Thứ nhất, về bối cảnh thời gian: Cuộc phán xét này xảy ra sau khi Đấng Christ tái lâm vinh hiển trên đất (Khải Huyền 19:11-21), sau khi AntiChrist và tiên tri giả bị ném vào hồ lửa (Khải Huyền 19:20), và trước khi Vương Quốc Ngàn Năm được chính thức thiết lập (Khải Huyền 20:4-6). Đây là khoảng thời gian chuyển tiếp cực kỳ quan trọng. Thời điểm mà Đấng Christ xét xử những người còn sống sót sau Kỳ Tận Thế để xác định ai sẽ bước vào Vương Quốc Ngàn Năm.
- Thứ nhì, về sự sống lại thứ nhất: Theo sự bày tỏ của Thánh Kinh, sự sống lại thứ nhất không xảy ra trong một thời điểm duy nhất mà diễn ra qua bốn giai đoạn khác nhau:
– Giai đoạn 1: Sự sống lại của chính Đấng Christ: “Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ” (I Cô-rinh-tô 15:20).
– Giai đoạn 2: Sự sống lại của các thánh đồ thời Hội Thánh trong ngày Đấng Christ đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian, trước Kỳ Tận Thế (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17).
– Giai đoạn 3: Sự sống lại của hai Chứng Nhân của Đức Chúa Trời vào giữa Kỳ Tận Thế (Khải Huyền 11:11-12).
– Giai đoạn 4: Sự sống lại của các thánh đồ trước thời Hội Thánh và các thánh đồ tử đạo trong Kỳ Tận Thế, trước khi Vương Quốc Ngàn Năm bắt đầu (Khải Huyền 20:4; Đa-ni-ên 12:2).
Rất có thể cuộc phán xét chiên và dê trong Ma-thi-ơ 25:31-46 xảy ra sau giai đoạn 4 của sự sống lại thứ nhất, nhưng trước khi Tiệc Cưới Chiên Con trên đất bắt đầu và Vương Quốc Ngàn Năm được thiết lập.
- Thứ ba, về thành phần của “muôn dân”: Sau khi Đấng Christ tái lâm và tiêu diệt AntiChrist, những kẻ mang dấu của nó cũng bị tiêu diệt (Khải Huyền 19:21). Như vậy, những người còn sống sót là những người đã không nhận dấu của AntiChrist. Trong số này có ít nhất ba nhóm:
– Nhóm 1: Dân I-sơ-ra-ên còn sót lại đã được Đức Chúa Trời đưa vào đồng vắng để tỵ nạn AntiChrist. Trong số họ có người đã tin nhận Đấng Christ (nữ đồng trinh khôn sáng), có người chưa tin (nữ đồng trinh dại).
– Nhóm 2: Những người trong các dân ngoại đã tin nhận Tin Lành trong Kỳ Tận Thế. Họ tin nhận Tin Lành qua sự rao giảng của 144.000 người I-sơ-ra-ên, của hai Chứng Nhân, của những người trong Hội Thánh bị bỏ lại mà đã ăn năn, và của thiên sứ.
– Nhóm 3: Những người từ mọi dân tộc đã không nhận dấu của AntiChrist, không thờ phượng nó, nhưng chưa tin Chúa một cách rõ ràng trong suốt Kỳ Tận Thế. Nhưng khi họ thấy Đấng Christ tái lâm trong vinh quang và tiêu diệt AntiChrist thì họ lập tức tin nhận Ngài.
- Thứ tư, về biểu tượng chiên và dê: Trong Thánh Kinh, chiên và dê đều là gia súc của người chăn. Cả hai đều thuộc về bầy của người chăn, không phải là chó hoang hay thú dữ. Điều này xác nhận rằng cả chiên lẫn dê trong ngữ cảnh này đều là người tin Chúa. Họ không phải là kẻ vô thần hay kẻ thù của Đức Chúa Trời. Sự phân biệt nằm ở chất lượng đức tin, không phải ở sự hiện diện hay sự vắng mặt của đức tin.
Chiên tiêu biểu cho người tin và sống theo Lời Chúa. Họ có đức tin sống động, có việc làm, sinh ra quả. Dê tiêu biểu cho người tin nhưng sống theo ý riêng. Đức tin của họ là đức tin chết, không có việc làm, không sinh ra quả. Gia-cơ 2:17 đã xác định: “Nếu đức tin không có các việc làm, thì tự mình nó chết.”
Dù lời tiên tri này dành cho những người còn sống vào cuối Kỳ Tận Thế nhưng giá trị đạo đức và thuộc linh của nó là muôn đời. Chúng được áp dụng cho người tin Chúa trong mọi thời đại, vì nguyên tắc “đức tin thật luôn thể hiện qua tình yêu và hành động” không bao giờ thay đổi.
Ma-thi-ơ 25:31-33
31 Khi Con Người đến trong sự vinh quang của mình cùng hết thảy các thiên sứ với Ngài, thì Ngài sẽ ngồi trên ngai vinh quang của Ngài.
32 Muôn dân sẽ được nhóm lại trước Ngài. Ngài sẽ phân rẽ họ, từ mỗi người ra khỏi nhau, như người chăn chiên phân rẽ những chiên ra khỏi những dê.
33 Thật, Ngài sẽ để những chiên bên tay phải của Ngài và những dê bên trái.
“Khi Con Người đến trong sự vinh quang của mình”: Đây là sự kiện được cả Cựu Ước lẫn Tân Ước tiên báo rõ ràng. Tiên Tri Đa-ni-ên đã thấy trước:
“Ta nhìn thấy trong những khải tượng ban đêm, này, có một Đấng giống như con người, đến với những đám mây trời. Đấng ấy đến với Đấng Thượng Cổ của Các Thời Đại, và họ đem Người đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền cai trị, vinh quang, và vương quốc, mà mọi dân, mọi nước, mọi thứ tiếng đều phụng sự Người. Quyền cai trị của Người là quyền cai trị không dứt, sẽ chẳng qua đi, và vương quốc của Người sẽ không bị diệt.” (Đa-ni-ên 7:13-14).
Xa-cha-ri 14:4 chỉ rõ địa điểm: “Trong ngày đó, đôi chân của Ngài sẽ đứng trên Núi Ô-li-ve, là núi đối mặt Giê-ru-sa-lem về phía đông.”
Đây không phải là sự đến trên mây trời để cất Hội Thánh ra khỏi thế gian. Đây là Sự Tái Lâm Vinh Hiển mà “mọi mắt sẽ nhìn thấy Ngài, kể cả những kẻ đã đâm Ngài” (Khải Huyền 1:7). Sự vinh quang của Ngài là sự vinh quang không thể che giấu, không thể nghi ngờ, không thể bác bỏ. Sự vinh quang mà khi nhìn thấy, “mọi đầu gối trên các tầng trời, trên đất và bên dưới đất, hết thảy đều quỳ xuống, và mọi lưỡi đều xưng nhận Jesus Christ là Chúa” (Phi-líp 2:10-11).
“Cùng hết thảy các thiên sứ với Ngài”: Sự hiện diện của hết thảy các thiên sứ nói lên quy mô không thể tưởng tượng của sự kiện này.
Trong Ma-thi-ơ 24:31, các thiên sứ được sai đi “nhóm lại những người đã được chọn của Ngài, từ bốn hướng gió, từ các tận cùng của các phương trời cho đến các tận cùng của chúng.” Bây giờ, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ thu nhóm đó, các thiên sứ đứng hầu trước ngai phán xét, như những chứng nhân và những người thực thi phán quyết.
Hê-bơ-rơ 12:22-23 mô tả cảnh tượng này:
“Nhưng các anh chị em đến gần Núi Si-ôn; gần thành của Thiên Chúa Hằng Sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời; gần muôn vàn thiên sứ; gần hội chúng và Hội Thánh của những con đầu lòng được ghi tên trong các tầng trời; gần Thiên Chúa, Đấng Phán Xét của mọi người; gần những tâm thần của những người công chính đã được làm cho vẹn lành…”
Đây là sự hội tụ vũ trụ, cả trời và đất, thiên sứ và loài người, cùng gặp nhau tại điểm phán xét, trước Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.
“Ngài sẽ ngồi trên ngai vinh quang của Ngài”: Hành động ngồi trong văn hóa cổ đại là hành động của người cầm quyền xét xử. Quan tòa ngồi xuống để tuyên án. Vua ngồi xuống để cai trị. Khi Đấng Christ ngồi trên ngai vinh quang, Ngài không còn là “Chiên Con bị giết” đang cầu thay mà Ngài là “Vua của Các Vua và Chúa của Các Chúa” đang thực thi quyền phán xét tối cao (Khải Huyền 19:16).
Thi Thiên 2:6 và 8 đã tiên tri về khoảnh khắc này:
“Nhưng Ta đã xức dầu cho Vua của Ta trên Núi Thánh Si-ôn của Ta.”
“Hãy cầu xin nơi Ta, thì Ta sẽ ban các nước làm cơ nghiệp của Con và các đầu cùng của đất làm vật sở hữu của Con.”
Đây là sự ứng nghiệm trọn vẹn của lời tiên tri đó.
“Muôn dân sẽ được nhóm lại trước Ngài”: Từ ngữ “muôn dân” theo nghĩa đen là tất cả các dân tộc. Như đã xác định trong phần mở đầu, đây là những người còn sống sót sau Kỳ Tận Thế từ mọi dân tộc, bộ lạc, ngôn ngữ. Họ bao gồm cả dân I-sơ-ra-ên còn sót lại lẫn các dân tộc khác, cả những người đã tin Chúa trong Kỳ Tận Thế lẫn những người chưa tin, nhưng khi thấy Đấng Christ tái lâm thì đã tin nhận Ngài.
Đặc biệt đáng chú ý là nhóm người thứ ba, những người chưa nghe Tin Lành đầy đủ, nhưng đã sống theo lương tâm, từ chối AntiChrist. Khi họ thấy Đấng Christ đến trong vinh quang, họ lập tức nhận ra Ngài là Đấng mà lương tâm họ đã chỉ đến. Rô-ma 2:14-15 mô tả những người này:
“Vì khi dân ngoại không có luật pháp mà tự nhiên làm những việc ở trong luật pháp, thì ấy là luật pháp cho họ dù họ không có luật pháp. Họ tỏ ra rằng việc làm của luật pháp đã được viết trong lòng họ. Tâm thức của họ làm chứng trong khi các ý tưởng của họ hoặc là cáo giác hoặc là bênh vực.”
“Ngài sẽ phân rẽ họ, từ mỗi người ra khỏi nhau”: Động từ “phân rẽ” trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là phân định ranh giới, tách biệt hoàn toàn. Đây không phải là sự phân loại sơ bộ có thể thay đổi. Đây là sự phân định dứt khoát và cuối cùng. Không ai có thể tranh cãi hay thay đổi sự phân định của Đấng Toàn Tri.
Điều đáng chú ý là Ngài phân rẽ “từ mỗi người ra khỏi nhau”. Theo nghĩa đen là từng cá nhân một. Đây không phải là sự phán xét theo nhóm hay theo dân tộc. Đây là sự phán xét cá nhân, xem xét từng người một, từng cuộc đời một. Điều này phù hợp với nguyên tắc Ê-xê-chi-ên 18:20:
“Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không mang sự gian ác của cha và cha không mang sự gian ác của con. Sự công chính của người công chính sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất trên mình.”
“Như người chăn chiên phân rẽ những chiên ra khỏi những dê”: Đây là sự so sánh lấy từ đời sống chăn nuôi tại xứ Ca-na-an hằng ngày mà các môn đồ nghe thì hiểu ngay lập tức.
Trong xứ Ca-na-an, vào thế kỷ thứ nhất, chiên và dê thường được chăn chung trong ban ngày. Chúng trông có vẻ giống nhau từ xa. Nhưng đến chiều tối, người chăn phải phân rẽ chúng vì ban đêm dê cần được đưa vào trong, còn chiên có thể ở ngoài trời.
Hình ảnh này nói lên một điều sâu sắc: Trong cuộc đời này, chiên và dê thường trông giống nhau từ bên ngoài. Cả hai đều ở trong bầy của người chăn, cả hai đều biết tiếng người chăn, cả hai đều có vẻ thuộc về người chăn. Chỉ đến lúc phán xét, sự phân biệt thật sự mới được bộc lộ.
Tiên Tri Ê-xê-chi-ên đã tiên tri về khoảnh khắc này hàng thế kỷ trước:
“Chúa Tự Hữu Hằng Hữu phán như vầy: “Còn các ngươi, hỡi bầy của Ta! Này, Ta sẽ xét đoán giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực.”” (Ê-xê-chi-ên 34:17).
“Ngài sẽ để những chiên bên tay phải… và những dê bên trái”: Trong văn hóa Do-thái và Cận Đông cổ đại, tay phải là tay của danh dự, ân huệ, và phước lành, tay trái là tay của sự từ chối và hình phạt. Thi Thiên 110:1 chép:
“Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán với Chúa tôi rằng: “Hãy ngồi bên phải Ta, cho đến chừng Ta đặt kẻ thù nghịch ngươi làm bệ chân cho ngươi.””
Vị trí tay phải là địa vị của người được chấp nhận và tôn vinh, còn vị trí tay trái là địa vị của người bị từ chối.
Ma-thi-ơ 25:34-36
34 Bấy giờ, Vua sẽ phán với những người bên tay phải của Ngài: ‘Hãy đến, những người đã được Cha Ta ban phước! Hãy thừa kế vương quốc đã sắm sẵn cho các ngươi từ buổi dựng nền của thế gian!
35 Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp đón Ta;
36 Ta trần truồng, các ngươi đã mặc cho Ta; Ta bệnh, các ngươi đã thăm viếng Ta; Ta ở trong tù, các ngươi đã đến với Ta.’
Đây là một trong những lời mời đẹp nhất và trọng đại nhất trong toàn bộ Thánh Kinh. Mỗi từ ngữ đều mang tầm quan trọng Thần học không thể bỏ qua.
“Bấy giờ, Vua sẽ phán”: Lần đầu tiên trong toàn bộ Ma-thi-ơ 25, Đức Chúa Jesus được gọi là “Vua.” Trong ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, Ngài là “chàng rể.” Trong ngụ ngôn Các Ta-lâng, Ngài là “chủ.” Nhưng tại đây, danh hiệu thay đổi hoàn toàn: Ngài là Vua. Vua của Vương Quốc Ngàn Năm sắp được thiết lập và của Vương Quốc Đời Đời sẽ đến. Vua mà mọi quyền phép trong trời và trên đất đã được trao cho (Ma-thi-ơ 28:18). Điều này không phải ngẫu nhiên. Trong ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, quan hệ là quan hệ hôn nhân. Trong ngụ ngôn Các Ta-lâng, quan hệ là quan hệ chủ tớ. Nhưng tại đây, khi Ngài ngồi trên ngai vinh quang, Ngài bày tỏ Ngài là ai trong uy quyền tối cao nhất: “Vua của Các Vua và Chúa của Các Chúa”.
“Hãy đến”: Lời mời này bắt đầu bằng tiếng gọi “Hãy đến!” Một lời mời chủ động, ấm áp, không phải một mệnh lệnh lạnh lùng. Đây là lời mời của người cha gọi con cái về nhà, của người chủ mời người tôi tớ được yêu quý vào nơi an toàn và vui mừng.
“Những người đã được Cha Ta ban phước”: Nguồn gốc của phước lành này không phải là từ việc làm của họ, mà là từ “Cha Ta.” Đây là sự khẳng định căn bản của Thần học ân điển: phước lành đến từ Đức Chúa Trời, không phải từ nỗ lực của loài người. Việc làm của họ (câu 35-36) không phải là nguyên nhân của phước lành. Nhưng chúng là bằng chứng của đức tin thật đã nhận được phước lành đó.
“Hãy thừa kế vương quốc đã sắm sẵn cho các ngươi từ buổi dựng nền của thế gian”: Đây là tuyên bố Thần học vô cùng quan trọng. Vương Quốc này không phải là điều được tạo ra vào phút chót. Nó được “sắm sẵn từ buổi dựng nền của thế gian”. Sứ Đồ Phao-lô đã xác nhận:
“Đến nỗi, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng ấy từ trước khi lập nền thế gian, để chúng ta được nên thánh và không chỗ trách được, trước Ngài, trong tình yêu. Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên những con nuôi của chính Ngài bởi Đức Chúa Jesus Christ, theo ý muốn tốt lành của Ngài…” (Ê-phê-sô 1:4-5).
Điều này không mâu thuẫn với trách nhiệm tự do của loài người. Nó khẳng định rằng sự lựa chọn của Đức Chúa Trời và sự đáp ứng của loài người cùng tồn tại trong mầu nhiệm của sự quan phòng thiêng liêng. Những người được vào Vương Quốc vừa là những người Đức Chúa Trời đã chọn từ trước, vừa là những người đã tự do đáp ứng ân điển của Ngài, qua đức tin và việc làm.
Vì Ngài biết trước họ sẽ vâng phục Ngài và tin nhận Con Ngài, nên Ngài đã chọn họ từ khi họ chưa được dựng nên.
“Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống…”: Vua liệt kê sáu hành động cụ thể: cho người đói ăn, cho người khát uống, tiếp đón khách lạ, mặc cho người trần truồng, thăm viếng người bệnh, đến với người ở tù. Sáu hành động này không phải là danh sách ngẫu nhiên. Đây là danh sách mô tả tình yêu cụ thể, tốn kém, và không thuận tiện. Tất cả sáu tình huống đều là các tình huống mà người nhận ở trong vị trí yếu đuối, dễ bị bỏ qua, và không có khả năng trả ơn. Đây chính là bản chất của tình yêu vô điều kiện, không tính toán lợi ích.
Trong bối cảnh Kỳ Tận Thế, sáu hành động này mang ý nghĩa sống còn đặc biệt. Những người theo Chúa trong thời kỳ AntiChrist sẽ bị bắt bớ, bị tù đày, bị tước đoạt tài sản, bị xã hội loại trừ. Những ai giúp đỡ họ là đang mạo hiểm chính mạng sống mình. Hành động yêu thương trong bối cảnh đó không phải là hành động dễ dàng hay an toàn. Đó là hành động của đức tin thật hoặc của những người sống đúng với lương tâm mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong họ.
Đặc biệt, đối với nhóm người thứ ba, những người chưa tin Chúa một cách rõ ràng trong suốt Kỳ Tận Thế, những hành động yêu thương này có thể đã được thực hiện không phải vì họ biết mình đang giúp người của Đức Chúa Trời, mà vì lòng trắc ẩn tự nhiên và tâm thức trong sạch. Tuy nhiên, Đấng Christ vẫn nhìn nhận và ghi nhớ những hành động đó. Ngài đã phán:
“Vì bất cứ ai sẽ cho các ngươi uống một chén nước trong danh Ta, vì các ngươi thuộc về Đấng Christ, thật, Ta bảo các ngươi, người ấy sẽ không bao giờ mất phần thưởng của mình.” (Mác 9:41).
Và Sáng Thế Ký 18:25 khẳng định: “Đấng phán xét toàn thế gian, lại không làm sự công chính sao?”
Ma-thi-ơ 25:37-39
37 Lúc ấy, những người công chính sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Ngài đói và cho Ngài ăn; hoặc khát và cho Ngài uống?
38 Lại khi nào chúng tôi đã thấy Ngài là khách lạ và tiếp đón Ngài; hoặc trần truồng và mặc cho Ngài?
39 Khi nào chúng tôi đã thấy Ngài bệnh, hoặc ở trong tù, và đến với Ngài?’
Đây là khoảnh khắc đầy cảm xúc và ý nghĩa Thần học sâu sắc nhất trong toàn bộ đoạn văn. Những người công chính không đứng trước ngai phán xét với thái độ tự mãn hay kiêu ngạo. Họ đứng trong sự ngạc nhiên chân thật.
“Lúc ấy, những người công chính sẽ thưa”: Họ được gọi là “người công chính” ngay trước khi họ nói. Đây là danh xưng Đấng Christ ban cho họ, không phải danh xưng họ tự nhận. Và danh xưng này phản ánh sự thật Thần học quan trọng: sự công chính của họ là sự công chính được ban cho qua đức tin vào Đấng Christ (Rô-ma 5:17; II Cô-rinh-tô 5:21), không phải là sự công chính họ tự tích lũy qua việc làm. Mọi việc làm công chính của họ đều xuất phát từ bản tính công chính mà Đấng Christ đã ban cho họ.
“Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Ngài đói…”: Câu hỏi này tiết lộ bản tính của tình yêu chân thật. Họ không biết mình đang phục vụ Đấng Christ khi họ làm những việc đó. Họ không giúp người đói vì muốn ghi điểm trước mặt Đức Chúa Trời, không tiếp khách lạ vì muốn được thưởng, không thăm viếng người bệnh vì muốn tích lũy công đức. Họ làm những điều đó vì tình yêu tự nhiên tuôn chảy từ bản chất thuộc linh của người đã được tái sinh.
Đây là điều mà Đức Chúa Jesus đã dạy trong Bài Giảng Trên Núi:
“Hãy giữ, đừng làm sự bố thí của các ngươi trước mặt người ta để được thấy bởi họ. Nếu không, các ngươi chẳng có phần thưởng của Cha các ngươi, Đấng ở trong các tầng trời… Nhưng khi ngươi làm sự bố thí, đừng cho tay trái ngươi biết tay phải ngươi làm việc gì…” (Ma-thi-ơ 6:1, 3).
Người công chính trong câu 37-39 chính là những người đã thực hành lời dạy này. Họ làm điều tốt, việc lành một cách tự nhiên, không có ý thức tính toán, đến mức chính họ cũng không nhớ hay để ý.
Điều này đặc biệt rất ý nghĩa đối với nhóm người thứ ba, những người chưa tin Chúa một cách rõ ràng trong Kỳ Tận Thế nhưng đã sống theo lương tâm. Sự ngạc nhiên của họ khi nghe Đấng Christ nhìn nhận những hành động yêu thương của mình sẽ còn lớn hơn cả sự ngạc nhiên của những người đã tin Chúa lâu năm. Vì họ không hề biết rằng lương tâm dẫn dắt họ chính là tiếng nói của Đấng mà giờ đây đang ngồi trên ngai vinh quang trước mặt họ.
Từ quan điểm tâm lý học thuộc linh, điều này nói lên rằng đức tin thật sự biến đổi bản chất người ta từ bên trong, đến mức việc làm tốt lành trở thành bản năng thuộc linh thay vì là nỗ lực có ý thức. Ga-la-ti 5:22-23 mô tả “trái của tâm thần” chứ không mô tả “việc làm của tâm thần.” Trái mọc ra tự nhiên từ cây khỏe mạnh, không cần cây phải cố gắng ra trái. Một cây cam khỏe mạnh không phải “cố gắng” để ra trái cam. Nó tự nhiên ra trái vì đó là bản tính của nó. Tương tự, một người có đức tin thật không phải “cố gắng” để làm việc lành. Nhưng việc lành tự nhiên tuôn chảy từ bản chất mới trong Đấng Christ.
Ma-thi-ơ 25:40
40 Vua sẽ đáp lời, phán với họ: ‘Thật! Ta nói với các ngươi, các ngươi đã làm cho một trong những anh chị em nhỏ nhất này của Ta đến mức độ nào là các ngươi đã làm đến mức độ ấy cho Ta.’
Đây là câu Thánh Kinh trung tâm của toàn bộ đoạn văn, và là một trong những tuyên bố cách mạng nhất không tìm thấy trong lịch sử tư tưởng của các tôn giáo.
“Thật! Ta nói với các ngươi”: Chữ “thật” đánh dấu lời tuyên bố có tầm quan trọng đặc biệt. Đức Chúa Jesus đang nói điều mà tai người nghe không thể tưởng tượng được: Một sự đồng nhất đến mức khó tin giữa Ngài và những người bé nhỏ, đau khổ.
“Các ngươi đã làm cho một trong những anh chị em nhỏ nhất này của Ta”: Đức Chúa Jesus gọi những người bé nhỏ, nghèo khó, đói khát, bệnh tật, tù tội là “anh chị em của Ta.” Ngài không gọi họ là “những kẻ khốn khổ” hay “những người cần giúp đỡ”. Ngài gọi họ là gia đình của Ngài. Điều này gợi nhớ chính lời phán của Ngài:
“Vì bất cứ ai làm theo ý muốn của Cha Ta, Đấng ở trong các tầng trời, thì người ấy là em trai, em gái, và mẹ của Ta.” (Ma-thi-ơ 12:50).
Lời Chúa cũng chép rằng:
“Vì Đấng làm nên thánh và những người được nên thánh, hết thảy đều ra bởi một Cha. Bởi lẽ đó, Ngài không hổ thẹn, gọi họ là những em cùng Cha. Ngài phán rằng: Tôi sẽ truyền danh của Ngài cho những em cùng Cha của tôi. Trong giữa Hội Thánh, tôi sẽ ca hát tôn vinh Ngài.” (Hê-bơ-rơ 2:11-12).
Trong bối cảnh Kỳ Tận Thế, “anh chị em nhỏ nhất của Ta” chỉ cụ thể về những người theo Chúa đang bị bắt bớ, từ 144.000 người I-sơ-ra-ên được đóng ấn đến những người tin Chúa trong mọi dân tộc đang bị AntiChrist săn đuổi, đang bị tước đoạt mọi sự, đang bị tù đày. Việc giúp đỡ những người này trong bối cảnh đó là mạo hiểm chính mạng sống mình.
“Nhỏ nhất”: Không phải những người lớn nhất hay có ảnh hưởng nhất, mà là những người nhỏ nhất, bé bỏng nhất, không ai để ý đến. Đây là nguyên tắc của Vương Quốc Trời: Đấng Christ đặc biệt đồng nhất mình với những người mà thế gian coi thường và bỏ qua.
“Các ngươi đã làm đến mức độ ấy cho Ta”: Đây là tuyên bố Thần học cách mạng nhất: Đấng Christ đồng nhất mình hoàn toàn với mỗi người tin Chúa đang chịu khổ. Khi ai đó cho người đói ăn, họ đang cho Đấng Christ ăn. Khi ai đó tiếp khách lạ, họ đang tiếp Đấng Christ.
Điều này không phải là ngụ ngôn hay phép tu từ mà là tuyên bố Thần học nghiêm túc về bản chất của Thân Thể Đấng Christ.
“Các anh chị em là thân của Đấng Christ, và là các chi thể của từng phần.” (I Cô-rinh-tô 12:27).
Khi thân thể đau thì đầu đau. Công Vụ Các Sứ Đồ 9:4-5 minh chứng điều này khi Đức Chúa Jesus phán với Sau-lơ đang bắt bớ Hội Thánh: “Hỡi Sau-lơ! Sau-lơ! Sao ngươi bách hại Ta? …Ta là Jesus mà ngươi bách hại.”
Sau-lơ không bách hại Đấng Christ trực tiếp. Ông bách hại Hội Thánh. Nhưng Đấng Christ tuyên bố rằng bách hại Hội Thánh chính là bách hại chính Ngài.
Điều này cũng có ý nghĩa rất đặc biệt đối với nhóm thứ ba. Khi một người chưa biết tên Chúa nhưng đã giúp đỡ người theo Chúa vì lòng trắc ẩn thì Đấng Christ nhìn nhận hành động đó như thể được làm trực tiếp cho Ngài. Đây là biểu hiện của sự công bằng thiên thượng, vượt quá mọi sự hiểu biết của loài người: Đức Chúa Trời không chỉ thưởng những gì người ta biết mình đang làm mà Ngài thưởng cả những gì người ta làm trong sự vô thức nhưng thật lòng.
Ma-thi-ơ 25:41-43
41 Kế đó, Ngài cũng sẽ phán với những người ở bên trái rằng: ‘Hãy lui khỏi Ta, hỡi những kẻ đã bị rủa! Hãy vào trong lửa vĩnh hằng đã sắm sẵn cho Ma Quỷ và những sứ giả của nó.
42 Vì Ta đói, các ngươi đã không cho Ta gì để ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho Ta gì để uống;
43 Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp đón Ta; Ta trần truồng, các ngươi đã không mặc cho Ta; Ta bệnh và ở trong tù mà các ngươi đã không thăm viếng Ta.’
Nếu câu 34 là lời mời đẹp nhất trong Thánh Kinh, thì câu 41 là lời phán xét nghiêm khắc nhất, và sự tương phản giữa hai lời này không thể nào mạnh hơn.
“Hãy lui khỏi Ta”: So sánh với “Hãy đến” trong câu 34, sự tương phản là hoàn toàn. “Hãy đến” là lời mời vào sự thông công với Đấng Christ. “Hãy lui khỏi” là lời đuổi ra khỏi sự thông công với Đấng Christ. Đây là sự phán xét đau đớn nhất có thể tưởng tượng được: không phải là bị tra tấn hay bị hành hình trước tiên, mà là bị phân rẽ khỏi Đấng Christ. Sự hiện diện của Ngài là nguồn sống, niềm vui, và mọi điều tốt lành. Bị tách khỏi Ngài là nỗi đau đớn tột cùng.
“Hỡi những kẻ đã bị rủa”: Đối chiếu với “những người đã được Cha Ta ban phước” trong câu 34. Phước lành đến từ Cha nhưng sự rủa sả không được gán cho Cha. Kinh văn không nói “những kẻ Cha Ta đã rủa” mà chỉ nói “những kẻ đã bị rủa.” Đây là sự tế nhị Thần học quan trọng: Đức Chúa Trời không chủ động rủa sả loài người. Loài người rơi vào sự rủa sả, khi họ từ chối ân điển; và sự phán xét phải đến như hậu quả tự nhiên của sự lựa chọn đó.
“Hãy vào trong lửa vĩnh hằng đã sắm sẵn cho Ma Quỷ và những sứ giả của nó”: Đây là chi tiết Thần học vô cùng quan trọng. Lửa vĩnh hằng không được sắm sẵn cho loài người. Lửa ấy được sắm sẵn cho Ma Quỷ và các thiên sứ sa ngã của nó. Loài người vào trong lửa vĩnh hằng không phải vì Đức Chúa Trời muốn họ ở đó, mà vì họ đã chọn theo Ma Quỷ, thay vì theo Đấng Christ. Sứ Đồ Phi-e-rơ xác nhận:
“Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như một số người tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng khoan nhẫn đối với chúng ta, không muốn cho một người nào chết mất, nhưng muốn cho mọi người đều ăn năn.” (II Phi-e-rơ 3:9).
Đức Chúa Trời không muốn ai vào lửa vĩnh hằng, và lửa vĩnh hằng không phải là điểm đến ban đầu được thiết kế cho loài người. Loài người đến đó khi họ chọn cùng số phận với Ma Quỷ bằng cách từ chối Đức Chúa Trời.
“Vì Ta đói, các ngươi đã không cho Ta gì để ăn…”: Sáu hành động của chiên trong câu 35-36 bây giờ được liệt kê theo chiều phủ định. Không phải là những dê đã làm điều gì xấu xa hay tàn ác. Họ chỉ đơn giản là không làm gì. Tội của họ là tội không hành động đúng, tội của sự thờ ơ, tội của sự lạnh lùng, tội của sự không quan tâm.
Đây là một trong những bài học đạo đức sâu sắc nhất của toàn bộ Thánh Kinh: Im lặng trước nỗi đau của người khác là tội lỗi. Ê-xê-chi-ên 16:49 mô tả tội lỗi của Sô-đôm không phải chỉ là sự đồi bại tình dục mà còn là sự vô cảm: “ở kiêu ngạo, ăn bánh no nê, và ở không cách sung sướng; nó lại không bổ sức cho tay những người nghèo nàn và thiếu thốn.”
Những dê là những người tin Chúa nhưng sống theo ý riêng. Họ có đủ khả năng để giúp đỡ nhưng đã chọn không làm. Đây không phải là sự thiếu hiểu biết hay thiếu cơ hội. Đây là sự lựa chọn có ý thức để bảo vệ sự thoải mái và an toàn của mình, thay vì phục vụ Đấng Christ qua những người bé nhỏ nhất của Ngài.
Sứ Đồ Gia-cơ đã cảnh báo:
“Nếu có anh em cùng Cha nào hoặc chị em cùng Cha nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống mỗi ngày, mà một người trong các anh chị em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích lợi gì chăng?” (Gia-cơ 2:15-16).
Tình yêu, sự quan tâm không thể hiện thành hành động cụ thể không phải là tình yêu thật, không phải là sự quan tâm thật.
Sự tương phản giữa phần dành cho chiên và phần dành cho dê là một trong những lời cảnh tỉnh mạnh mẽ nhất trong Thánh Kinh.
Ma-thi-ơ 25:44-45
44 Rồi, họ cũng sẽ đáp lời Ngài, thưa rằng: ‘Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Ngài đói, hoặc khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc bệnh, hoặc ở trong tù mà chúng tôi đã không phục vụ Ngài?’
45 Thì Ngài cũng sẽ trả lời họ, phán rằng: ‘Thật! Ta nói với các ngươi, các ngươi đã không làm cho một trong những người nhỏ này đến mức độ nào, thì các ngươi cũng đã không làm cho Ta đến mức độ ấy.’
Những dê cũng ngạc nhiên nhưng sự ngạc nhiên của họ hoàn toàn khác với sự ngạc nhiên của những chiên.
Sự ngạc nhiên của những chiên (câu 37-39): “Khi nào chúng tôi đã thấy Ngài… và phục vụ Ngài?” Đó là sự ngạc nhiên vì không biết rằng việc mình làm có giá trị lớn lao như vậy. Họ đã yêu thương mà không biết mình đang yêu thương Đấng Christ.
Sự ngạc nhiên của những dê (câu 44): “Khi nào chúng tôi đã thấy Ngài… và không phục vụ Ngài?” Đó là sự ngạc nhiên vì không biết rằng sự thờ ơ của mình có hậu quả nghiêm trọng như vậy.
Nhưng chúng ta hãy chú ý. Họ không hỏi: “Khi nào chúng tôi đã thấy người đói, người bệnh, người tù?” mà họ hỏi: “Khi nào chúng tôi đã thấy Ngài?” Điều này tiết lộ vấn đề thật sự của họ. Họ sẵn sàng phục vụ Đấng Christ nếu họ thấy Ngài trực tiếp, nhưng họ không nhận ra Ngài trong những người bé nhỏ, nghèo khó, và bị khinh thường.
Đây là bản chất của sự giả hình thuộc linh: Sẵn sàng thờ phượng Đấng Christ trong nơi nhóm họp của Hội Thánh nhưng không nhận ra Ngài trên đường phố. Sẵn sàng hát những bài thánh ca về tình yêu thương nhưng bước qua người tật nguyền ăn xin trên vỉa hè. Sẵn sàng dâng tiền cho chương trình truyền giáo ở xa nhưng không quan tâm đến người hàng xóm đang đau khổ.
Chiên không thấy Đấng Christ trực tiếp trong những người bé nhỏ. Nhưng họ đã hành động vì lòng trắc ẩn. Dê cũng không thấy, nhưng họ đã không hành động. Sự khác biệt không nằm ở sự nhìn mà nằm ở tấm lòng.
“Thật! Ta nói với các ngươi, các ngươi đã không làm cho một trong những người nhỏ này đến mức độ nào”: Câu trả lời của Đấng Christ với dê là phủ định của câu trả lời Ngài dành cho chiên. Từng chữ, từng cấu trúc câu đều song song, chỉ thay “đã làm” bằng “đã không làm.” Điều này nhấn mạnh: tiêu chuẩn phán xét là một và duy nhất về thái độ đối với “những người nhỏ nhất” của Đấng Christ.
Hai câu 44-45 dạy chúng ta một lẽ thật quan trọng: Sự thờ ơ cũng là một hành động, hành động của sự từ chối.
- Không cho ăn cũng là một lựa chọn.
- Không tiếp khách cũng là một lựa chọn.
- Không thăm viếng cũng là một lựa chọn.
Và Đấng Christ nhìn nhận sự không hành động đó là sự cư xử đối với chính Ngài.
Ma-thi-ơ 25:46
46 Và những kẻ ấy sẽ đi vào hình phạt vĩnh cửu, còn những người công chính sẽ đi vào sự sống vĩnh cửu.”
Câu kết thúc này là một trong những câu quan trọng nhất trong toàn bộ Tân Ước về thời chung cuộc, và nó nói lên sự thật cuối cùng một cách rõ ràng không thể nhầm lẫn.
“Những kẻ ấy sẽ đi vào hình phạt vĩnh cửu”: Chữ “vĩnh cửu” trong cụm từ “hình phạt vĩnh cửu” là cùng một từ được dùng trong cụm từ “sự sống vĩnh cửu.”
Đây là điểm Thần học cực kỳ quan trọng:
- Nếu “sự sống vĩnh cửu” là vô tận, thì “hình phạt vĩnh cửu” cũng phải là vô tận.
- Không thể dùng từ “vĩnh cửu” theo một nghĩa cho sự sống và theo một nghĩa khác (hữu hạn) cho hình phạt mà không vi phạm tính nhất quán ngôn ngữ.
Đây là lập luận ngôn ngữ mạnh mẽ nhất chống lại thuyết hủy diệt hoàn toàn (annihilationism) và thuyết cho rằng cuối cùng mọi người đều được cứu (universalism). Đức Chúa Jesus không để lại sự mơ hồ: có hai số phận, cả hai đều vĩnh cửu, và chúng hoàn toàn đối lập nhau.
“Còn những người công chính sẽ đi vào sự sống vĩnh cửu”: “Sự sống vĩnh cửu” trong Tân Ước không chỉ có nghĩa là “sống mãi mãi” theo nghĩa thời gian. Đây là chất lượng của sự sống. Sự sống của chính Thiên Chúa, sự sống trong sự thông công hoàn toàn và vĩnh cửu với Ngài.
Chính Đức Chúa Jesus định nghĩa:
“Và đây là sự sống vĩnh cửu, rằng, họ nhìn biết Ngài, Thiên Chúa chân thật duy nhất, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến.” (Giăng 17:3).
Sự sống vĩnh cửu bắt đầu không phải ở thời điểm phán xét này. Nó bắt đầu từ khoảnh khắc một người tin nhận Đấng Christ:
“Thật! Thật! Ta nói với các ngươi rằng, ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta, thì có sự sống vĩnh cửu và sẽ không đi vào sự phán xét, nhưng đã vượt khỏi sự chết, vào trong sự sống.” (Giăng 5:24).
Điều xảy ra tại cuộc phán xét chiên và dê là sự xác nhận công khai và bước vào trọn vẹn của sự sống đó, trong Vương Quốc Ngàn Năm, và sau đó là Vương Quốc Đời Đời.
Cuộc phán xét chiên và dê là lời cảnh báo và khích lệ đặc biệt dành cho những người sẽ sống trong Kỳ Tận Thế.
Lời cảnh báo: Sống sót qua Kỳ Tận Thế mà không nhận dấu của AntiChrist không tự động đảm bảo được vào Vương Quốc Trời. Đức tin phải là thật, và đức tin thật luôn bày tỏ qua hành động yêu thương cụ thể. Trong thời kỳ bắt bớ, khi những người theo Chúa bị đói, bị tù, bị bệnh… thì thái độ đối với họ là bằng chứng của đức tin thật hay đức tin giả.
Lời khích lệ: Mọi hành động yêu thương nhỏ nhất như cho một người đói một miếng bánh, che phủ một người lạnh một tấm áo, thăm viếng một người bệnh hay một người bị tù… đều được Đấng Christ nhìn thấy và ghi nhớ. Không có hành động yêu thương nào quá nhỏ để bị bỏ qua trước mặt Ngài. “Vương quốc đã sắm sẵn cho các ngươi từ buổi dựng nền của thế gian” là phần thưởng cho mọi hành động trung tín, dù hành động ấy nhỏ đến đâu.
Lời dành cho dân I-sơ-ra-ên: Xa-cha-ri 12:10 và 13:1 tiên tri về sự tỉnh thức thuộc linh của dân I-sơ-ra-ên, khi họ thấy Đấng Christ tái lâm. Nhưng đức tin mới sinh cần phải được bày tỏ qua hành động ngay lập tức. Không có thời gian để trì hoãn. Cuộc phán xét chiên và dê xảy ra ngay sau đó không bao lâu. Ô-sê 6:1-3 là lời kêu gọi thích hợp nhất:
“Hãy đến! Chúng ta hãy trở về cùng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu! Vì Ngài đã xé nhưng Ngài sẽ chữa lành chúng ta. Ngài đã đánh nhưng Ngài sẽ buộc vết thương cho chúng ta. Sau hai ngày, Ngài sẽ khiến chúng ta sống lại. Ngày thứ ba, Ngài sẽ dựng chúng ta dậy. Chúng ta sẽ sống trước mặt Ngài. Chúng ta hãy nhận biết Đấng Tự Hữu Hằng Hữu; chúng ta hãy gắng sức nhận biết Ngài. Sự hiện ra của Ngài là chắc chắn như sự hiện ra của mặt trời sớm mai, Ngài sẽ đến với chúng ta như mưa, như mưa cuối mùa tưới đất.”
Lời dành cho những người không phải dân I-sơ-ra-ên nhưng tin nhận Tin Lành trong Kỳ Tận Thế: Họ sẽ đứng trước ngai phán xét với bối cảnh đặc biệt của mình. Họ đã tin Chúa trong hoàn cảnh nguy hiểm nhất trong lịch sử loài người. Nhiều người trong số họ sẽ bị giết vì đức tin (Khải Huyền 13:7; 15). Những người còn sống sót đã phải hoạt động trong bối cảnh bắt bớ tàn khốc, tài nguyên hạn chế, và sự đe dọa liên tục của AntiChrist. Lời khuyên dành cho họ là lời khuyên của Đức Chúa Jesus trong Mác 9:41:
“Vì bất cứ ai sẽ cho các ngươi uống một chén nước trong danh Ta, vì các ngươi thuộc về Đấng Christ, thật, Ta bảo các ngươi, người ấy sẽ không bao giờ mất phần thưởng của mình.”
Dù họ chỉ có hai ta-lâng, dù họ chỉ có thể làm những việc nhỏ nhất, nhưng mỗi hành động yêu thương họ làm ra đều được Đấng Christ nhìn nhận và sẽ được ban thưởng xứng đáng.
Lời dành cho những người không phải dân I-sơ-ra-ên chưa tin nhận Tin Lành nhưng sống theo lương tâm, và tin Chúa khi thấy Ngài tái lâm: Đây là nhóm người đặc biệt nhất và cũng là nhóm ít được chú giải nhất trong Thần học thời chung cuộc. Tuy nhiên, sự xuất hiện của họ trong cuộc phán xét chiên và dê bày tỏ chiều sâu không thể đo lường của sự công bằng và ân điển của Đức Chúa Trời.
Họ là những ai?
Rô-ma 2:14-15 mô tả một loại người đặc biệt:
“Vì khi dân ngoại không có luật pháp mà tự nhiên làm những việc ở trong luật pháp, thì ấy là luật pháp cho họ dù họ không có luật pháp. Họ tỏ ra rằng việc làm của luật pháp đã được viết trong lòng họ. Tâm thức của họ làm chứng trong khi các ý tưởng của họ hoặc là cáo giác hoặc là bênh vực.”
Đây là những người chưa nghe Tin Lành một cách đầy đủ, hoặc đã nghe nhưng chưa hiểu đúng. Dù vậy, họ sống theo tiếng lương tâm mà Đức Chúa Trời đã đặt trong mọi người khi dựng nên họ theo hình và tượng Thiên Chúa. Trong thời Kỳ Tận Thế, họ từ chối nhận dấu của AntiChrist, không nhất thiết vì lý do đức tin nơi Thiên Chúa, mà vì lương tâm mách bảo rằng đó là điều sai trái. Và khi ánh sáng vinh quang của Đấng Christ chiếu ra, không thể phủ nhận, họ nhận ra ngay lập tức rằng Ngài chính là Đấng mà lương tâm họ đã chỉ đến trong suốt cuộc đời, dù họ không biết tên Ngài. Họ tin nhận Ngài trong khoảnh khắc đó với tất cả sự chân thành của tấm lòng.
Những người ấy có thể đã giúp đỡ những người theo Chúa trong Kỳ Tận Thế: che giấu họ, cho họ ăn uống, chăm sóc họ khi bệnh… không phải vì biết họ là người của Đức Chúa Trời, mà vì lòng trắc ẩn tự nhiên và lương tâm trong sạch. Và Đấng Christ sẽ nhìn nhận những hành động đó, như thể chúng được làm trực tiếp cho Ngài.
Đây không phải là “cơ hội thứ hai” theo nghĩa người đã nghe và từ chối Tin Lành nay quay lại, nhưng là sự ứng nghiệm đầu tiên và trọn vẹn của đức tin đối với những người chưa bao giờ có cơ hội nghe Tin Lành rõ ràng. Đây là biểu hiện của sự công bằng thiên thượng vượt quá mọi sự hiểu biết của loài người.
Ân điển ấy vượt qua sự hiểu biết hạn chế. Lu-ca 12:47-48 xác lập nguyên tắc này rõ ràng:
“Đầy tớ ấy đã biết ý chủ mình mà không sẵn sàng cũng không làm theo ý của người, thì sẽ bị đòn nhiều. Nhưng người không biết làm việc đáng phạt thì sẽ bị đòn ít. Vì bất cứ ai được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều từ người ấy. Ai đã được giao cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều hơn từ người ấy.”
Công Vụ Các Sứ Đồ 17:30 cũng nói: “Đức Chúa Trời đã bỏ qua các thời ngu muội đó”. Đức Chúa Trời phán xét theo ánh sáng người ta đã có, không theo ánh sáng người ta chưa bao giờ nhận được.
Điều này không mở cửa cho thuyết “mọi con đường đều dẫn đến Đức Chúa Trời”, vì Giăng 14:6 vẫn là tuyệt đối: “Ta là Đường Đi, Lẽ Thật, và Sự Sống. Không ai đến cùng Cha nếu chẳng bởi Ta.” Nhưng nó xác nhận rằng Đấng Christ, qua sự chết và sống lại của Ngài, có thể áp dụng công lao cứu chuộc của Ngài theo những cách mà loài người không thể hoàn toàn hiểu hết, đặc biệt đối với những người chưa bao giờ nghe tên Ngài, nhưng đã đáp ứng với ánh sáng lương tâm mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ.
Lời dành cho Hội Thánh ngày nay: Dù lời tiên tri về cuộc phán xét chiên và dê là dành cho một giai đoạn cụ thể và những nhóm người cụ thể, những nguyên tắc của nó là muôn đời và áp dụng trực tiếp cho Hội Thánh trong thời đại ân điển.
Bài học thứ nhất: Kiểm tra đức tin của mình. Câu hỏi không phải là “Tôi có tin Chúa không?” mà là “Đức tin của tôi có thật không? Nó có sinh ra việc làm không?” Lời Chúa đã đặt ra câu hỏi thẳng thắn:
“Hỡi các anh chị em cùng Cha của tôi, nếu ai nói mình có đức tin, nhưng không có các việc làm, thì có ích lợi gì chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng?” (Gia-cơ 2:14).
Đây không phải là lời dạy rằng việc làm lành cứu người ta mà là lời dạy rằng đức tin thật luôn sinh ra việc làm lành, và nếu không có việc làm lành thì đó là bằng chứng đức tin không thật.
Bài học thứ nhì: Nhận ra Đấng Christ trong những người bé nhỏ nhất. Hội Thánh ngày nay dễ bị cám dỗ phục vụ những người có ảnh hưởng, những người có thể giúp ích lại, những người có địa vị xã hội. Nhưng Đấng Christ đồng nhất Ngài với “anh chị em nhỏ nhất”, không phải với người lớn nhất hay có ảnh hưởng nhất. Châm Ngôn 19:17 chép:
“Người cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vay là người thương xót người nghèo; và phần thưởng của người ấy, Ngài sẽ báo đáp cho.”
Bài học thứ ba: Đừng chờ đến khi thuận tiện. Những dê không phải là những người làm ác. Họ chỉ đơn giản là không làm gì. Sự thờ ơ là tội lỗi mà thế gian ngày nay bình thường hóa nhất. Ngụ ngôn Người Sa-ma-ri Nhân Từ (Lu-ca 10:30-37) minh họa hoàn hảo: thầy tế lễ và người Lê-vi không làm điều gì xấu xa. Họ chỉ bước qua người bị thương. Và Đức Chúa Jesus dùng chính sự bước qua đó để minh họa sự những người tôn thờ Chúa mà không có tình yêu thương.
Bài học thứ tư: Đừng phán xét những người chưa nghe Tin Lành. Rô-ma 14:4: “Ngươi là ai mà phán xét tôi tớ của người khác?” Hội Thánh không được phép tuyên bố dứt khoát về số phận cuối cùng của những người chưa nghe Tin Lành. Điều đó thuộc về Đấng phán xét cả đất, không thuộc về chúng ta. Thay vào đó, hãy trân trọng mọi ánh sáng lương tâm trong người chưa tin, và dùng nó như điểm xuất phát để chia sẻ Tin Lành.
Bài học thứ năm: Đây là lý do lớn nhất để rao truyền Tin Lành. Nếu Đức Chúa Trời là công bằng đến mức nhìn nhận ngay cả những hành động yêu thương của người chưa biết danh Ngài thì Hội Thánh càng phải khẩn cấp hơn, trong việc đem danh Ngài đến cho mọi người. Nhờ đó, họ có thể không chỉ sống theo lương tâm mờ nhạt mà được bước đi trong ánh sáng trọn vẹn của Tin Lành.
“Nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng mà họ chưa tin? Nhưng làm sao họ tin Đấng mà họ chưa nghe đến? Nhưng làm sao họ nghe khi không có người rao giảng?” (Rô-ma 10:14).
Người sống theo lương tâm có thể được xét xử một cách công bằng. Nhưng người đã nghe và tin Tin Lành trọn vẹn sẽ bước vào Vương Quốc Trời với sự chắc chắn và sự hiểu biết trọn vẹn hơn nhiều. Đây là đặc quyền của Tin Lành, và cũng là trách nhiệm của Hội Thánh.
Bài học thứ sáu: Hành động yêu thương của Hội Thánh là sự chứng Đạo mạnh mẽ nhất. Những người trong nhóm thứ ba, những người chưa tin nhưng có lương tâm trong sạch, thường được thu hút đến với Đấng Christ, qua chính sự yêu thương cụ thể của những người theo Ngài.
“Bởi điều này mọi người sẽ biết rằng, các ngươi là những môn đồ của Ta: Nếu các ngươi có tình yêu trong nhau.” (Giăng 13:35).
Hội Thánh yêu thương thật là Hội Thánh chứng Đạo thật, rao giảng Tin Lành thật.
Lời phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ được ghi lại trong Ma-thi-ơ 25, từ ngụ ngôn Mười Nữ Đồng Trinh, qua ngụ ngôn Các Ta-lâng, đến lời tiên tri về Sự Phán Xét Chiên và Dê, đều chỉ về cùng một sự thật căn bản: Đức tin thật không phải là lý thuyết, nó là sự sống.
- Đức tin thật thắp sáng đèn và dự trữ dầu trong bình, tức là luôn suy ngẫm và sống trong Lời Chúa mỗi ngày.
- Đức tin thật làm lợi các ta-lâng đã nhận được từ Chúa, tức là trung tín sử dụng mọi điều Chúa ban để xây dựng Hội Thánh.
- Đức tin thật nhìn thấy Đấng Christ trong người bé nhỏ nhất, và hành động yêu thương không tính toán.
Cuộc phán xét chiên và dê bày tỏ Đấng Christ vừa thánh khiết tuyệt đối, vừa công bằng hoàn toàn, vừa yêu thương vô bờ. Ngài không bỏ sót một hành động yêu thương nào, dù người làm là tín nhân lâu năm, là người mới tin trong giây phút cuối, là người chưa biết tên Ngài nhưng đã đáp ứng với ánh sáng lương tâm Đức Chúa Trời ban cho, bất kể họ là người thuộc dân tộc nào trên đất.
Vào ngày phán xét, những câu hỏi sẽ không phải là: “Ngươi đã thuộc bao nhiêu câu Thánh Kinh?” hay “Ngươi đã nhóm họp thờ phượng Chúa bao nhiêu năm?” hay “Ngươi đã dâng hiến bao nhiêu tiền?”
Câu hỏi sẽ là: “Ngươi đã yêu Ta như thế nào qua những người nhỏ nhất của Ta?”
Và câu trả lời cho câu hỏi đó không được viết vào ngày phán xét. Nó được viết trong từng ngày sống hôm nay, bằng mực của tình yêu, lòng trắc ẩn, và sự phục vụ khiêm nhường.
“Hãy đến, những người đã được Cha Ta ban phước! Hãy thừa kế vương quốc đã sắm sẵn cho các ngươi từ buổi dựng nền của thế gian!” (Ma-thi-ơ 25:34).
“…Đấng phán xét toàn thế gian, lại không làm sự công chính sao?” (Sáng Thế Ký 18:25).
Nguyện mỗi chúng ta, dù ở trong hoàn cảnh nào, dù sống vào thời đại nào, dù thuộc dân tộc nào, được nghe các lời ấy vào ngày ấy, vì đã sống một cuộc đời yêu thương thật sự, không tính toán, không biên giới, phản chiếu tình yêu của Đấng đã yêu chúng ta trước.
Chúng ta kết thúc bài học này tại đây.
Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa (Giăng 16:13). Nguyện Lời Chúa thánh hóa chúng ta (Giăng 17:17). Nguyện Đức Chúa Trời Thành Tín của Sự Bình An giữ cho tâm thần, linh hồn, và thân thể xác thịt của mỗi một chúng ta đều được nên thánh trọn vẹn, không chỗ trách được (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23), sẵn sàng cho sự đến của Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa Yêu Dấu của chúng ta. A-men!
Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla
02/05/2026
Ghi Chú
Kính mời quý ông bà, anh chị em tham dự buổi nhóm hiệp trên mạng với chúng tôi vào mỗi Thứ Bảy, lúc 8:00 giờ sáng, ngày và giờ theo Việt Nam, qua Phòng Nhóm “Giang Thanh Kinh” của PalTalk. Khoảng mười phút trước giờ nhóm, quý ông bà, anh chị em có thể bấm vào: https://invite.paltalk.net/20T9JFY9eTb để vào phòng.
Nếu không truy cập được các nối mạng dưới đây, xin vào https://server6.kproxy.com/, dán địa chỉ nối mạng vào ô tìm kiếm, rồi bấm nút surf.
Karaoke Thánh Ca: “Lòng Tôi Tha Thiết Tin Yêu Jesus”:
https://karaokethanhca.net/long-toi-tha-thiet-tin-yeu-jesus/
Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012: Các câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là theo Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012. Đây là bản Thánh Kinh Việt Ngữ trên mạng, đang trong tiến trình hiệu đính để hoàn thành Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời. Quý con dân Chúa có thể đọc tại đây: https://thewordtoyou.net/bible, chọn phiên bản “Hiệu Đính”.
Các chữ nằm trong hai dấu [ và ] không có trong nguyên văn của Thánh Kinh, nhưng được thêm vào cho đúng ngữ pháp tiếng Việt. Các chữ nằm trong hai dấu { và } là chú thích của người dịch, không có trong nguyên văn của Thánh Kinh. Các chữ nằm trong hai dấu ( và ) là chú thích của người viết Thánh Kinh. Các chữ nằm trong [[ và ]] là đánh dấu chúng không có trong các bản chép tay xưa nhất.
Lời Giới Thiệu về Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Hiệu Đính 2012 và Bản Dịch Ngôi Lời:
https://thanhkinhvietngu.net/loi-gioi-thieu-ve-thanh-kinh-viet-ngu-ban-dich-ngoi-loi/






Users Today : 152
Users Yesterday : 132
Users This Year : 14075
Total Users : 2817186
Views Today : 217
Total views : 4494112
Who's Online : 0